Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn
về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát
triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Một đảng chính trị
(chính đảng) nhất thiết phải có một nền tảng tư tưởng riêng và không được tách
rời nền tảng tư tưởng đó, trừ khi muốn biến nó thành một đảng hay một tổ chức
khác. V.I. Lênin chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào có được một lý luận tiền phong hướng
dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”[1]. Một chính đảng có thể trở thành một loại hình tổ
chức khác nếu không có một nền tảng tư tưởng vững chắc. Nền tảng tư tưởng
của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề
quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền
tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng,
nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có
chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ
học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn
nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[2].
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền
tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, nội dung nền tảng đó vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu
sắc. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị
và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của
chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất
là chủ nghĩa Lênin”[3].
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là
kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi
cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Những cống hiến đó, trước hết do Hồ Chí Minh đã nắm được bản chất cốt lõi,
“linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin. Theo Hồ Chí
Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự lợi ích chung, chứ
không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự
đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ:
“Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu
chủ nghĩa Mác - Lênin được”[4].
Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng thống nhất biện chứng với nhau. Vì
thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ
nghĩa Mác - Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa
Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ
Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Ngay từ khi ra đời,
Đảng ta xác định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và
thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp
với nguyện vọng của nhân dân. Điều lệ Đảng năm 1935 khẳng định:
“Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh
đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy
quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho
Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số
được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị
điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ
nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình
của Quốc tế Cộng sản”[5]. Điều
lệ của Đảng năm 1951 chỉ rõ: “Đảng Lao động
Việt Nam lấy chủ
nghĩa Mác - Ănghen - Lênin - Stalin và tư
tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”[6].
Đại hội Đảng lần thứ III (1960) của Đảng xóa bỏ cụm từ "Ănghen,
Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", Nghị quyết đại hội xác định: “Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn
mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa
học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung
điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định: tư tưởng Hồ
Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều
kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần
quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động”[7]. Đây là bước phát triển lớn
trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng;
thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng, cùng với chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế
giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng
tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991, không chỉ bảo đảm sự thống nhất
nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với
những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù
hợp với thực tiễn Việt Nam”[8].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên
định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh”[9].
Trong bối cảnh hiện nay, trước những
nguy cơ và thách thức lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh: Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh
chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên
tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Để xây dựng và phát triển đất
nước không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa,
trên thực tế con đường này đã khẳng định được sự thành công rõ nét, thể hiện
qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của
công cuộc đổi mới.
Nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác
định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức
sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng,
trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các
nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa”[10].
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và kiên quyết đấu tranh phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Cuộc đấu
tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những thời điểm quyết liệt, có tính chất
sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém phần cam go, phức tạp, nhưng Đảng
ta vẫn đứng vững. Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp
tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn
mạnh hơn, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với
những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức
đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một
bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng
về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng khiến cho việc đấu tranh
chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, Văn kiện Đại hội
XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị
không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục
tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số
ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”[11].
Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái,
thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam
trong sạch, vững mạnh.
Nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: Bảo vệ
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất của quốc
gia dân tộc; Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch
của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các phần tử cơ hội, thoái hóa,
biến chất.
Theo đó, Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch là hai mặt có mối quan hệ mật thiết với nhau, thể hiện
sự thống nhất biện chứng giữa "xây" và "chống", thể hiện
quy luật tồn tại và phát triển của hệ tư tưởng XHCN nước ta. Bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạt được khi chúng ta kiên định nền tảng tư
tưởng đã xác định, phát triển và vận dụng sáng tạo, thực hiện thành công nền
tảng tư tưởng đó trong thực tiễn cách mạng; đồng thời, khi chúng ta thực hiện
thành công cuộc đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch,
phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc
lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng, xuyên tạc, bịa đặt tình hình đất nước.
Công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời, độc lập với
cuộc đấu tranh phản bác, phê phán quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, cũng
không thể phiến diện, cực đoan, tả khuynh cho rằng đấu tranh, phản bác quan
điểm sai trái, thù địch là mục đích tối thượng của cuộc đấu tranh tư tưởng của
Đảng hiện nay. Bản chất, nội dung của cách mạng là xây dựng chế độ XHCN, trong
đó, xây dựng kiến trúc thượng tầng XHCN về hình thái ý thức xã hội. Đó là, làm
cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, của
Đảng, pháp luật Nhà nước ta trở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời
sống tinh thần xã hội; phát triển, sáng tạo, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề
ra đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước; xác định rõ,
việc đấu tranh phản bác các quan điểm trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là quy luật
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc xác định các phương
hướng, nhiệm vụ, quan điểm, giải pháp cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng chủ
đạo là kết hợp giữa “xây”và “chống”, và “xây” là mục đích cao nhất. Nghị quyết
35 của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng,
bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Nhân dân,
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc,
giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.
Căn cứ vào tình hình cụ thể ở mỗi giai đoạn, Đảng ta đưa ra những chỉ đạo cụ
thể trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng đã thẳng thắn
vạch rõ những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, như: “Diễn biến hòa bình là một chiến
lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là
“thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”... Trong chiến lược này, hoạt động văn
hóa - tư tưởng được coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”,
là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng,
tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ
hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa”[12].
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4
khóa XII, của Đảng chỉ rõ: một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức
sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị;
lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường
lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước”[13],
khiến cho các thế lực thù địch có cơ hội chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng
của Đảng.
Đặc biệt, việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể
hiện đậm nét trong Nghị quyết số 35-NQ/TW (ngày 22/10/2018) của Bộ Chính trị. Theo Nghị quyết số 35-NQ/TW, nội dung lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng hiện nay bao gồm: Lãnh đạo đấu tranh phản bác các luận điệu phủ nhận chủ
nghĩa Mác - Lênin; lãnh đạo phản bác các
luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh; lãnh đạo phản bác, vạch trần các
luận điệu chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp
luật của Nhà nước ta; lãnh đạo phản bác các luận điệu phủ nhận thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng; lãnh đạo đấu tranh chống xuyên
tạc lịch sử, phản bác các luận điệu “viết lại lịch sử”, hạ bệ thần tượng, bôi
nhọ các nhà lãnh đạo chính trị cấp cao của Đảng, Nhà nước ta.
Nhiệm vụ và giải pháp trong bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian tới, Nghị quyết cũng chỉ rõ: Tập
trung đổi mới để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư
tưởng; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên
truyền vể Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của báo chí
truyền thông; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ
chức thực hiện kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành cương
lĩnh, điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng và kiên quyết xử lý kịp thời,
nghiêm minh đối với sai phạm; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng; Các cấp
ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát
ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin
sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên
tạc, vu khống, kích động; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử
dụng internet và mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; là học tập, nghiên cứu, phát huy, phát triển, tuyên truyền,
phổ biến sâu rộng những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xã hội. V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta không hề
coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm;
trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà
những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt,
nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”[14].
Do đó, đối với giảng viên, việc bảo vệ, giữ vững và phát triển nền tảng tư
tưởng của Đảng trong giảng dạy lý luận chính trị, cần tập trung làm tốt một số
nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, cần nhận thức sâu
sắc vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết, kiên trì thực
hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của
Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa
thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước
mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và
nhân dân. Khẳng định quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của
Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng
Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thư hai, trong giảng dạy cần nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ rõ những giá trị cốt lõi, những giá trị
lý luận trường tồn, mà trước hết là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp
luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử; học thuyết về giá trị thặng dư; học thuyết về hình thái kinh tế - xã
hội; học thuyết về xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền; lý luận về xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội; tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về giải phóng và phát
triển toàn diện con người. Đồng thời, cần chỉ rõ bản chất phản động, những luận
điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Thư ba, tăng cường công tác tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều
ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Nhằm bổ sung, phát
triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới tư duy lý
luận, cung cấp thêm sức sống mới cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong bối cảnh hiện nay. Phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan, không bảo thủ, giáo điều, không chủ quan duy
ý chí đốt cháy giai đoạn. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đặt
lợi ích và phúc lợi của Nhân dân, đặt Nhân dân vào trung tâm của quá trình
hoạch định và thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thư tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục,
học tập, phổ biến sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
quá trình giảng dạy. Không ngừng tìm tòi, đổi mới nội dung, phương thức, hình
thức truyền đạt kiến thức, phù hợp với từng đối tượng cụ thể, đảm bảo chất lượng,
hiệu quả thiết thực; làm cho cán bộ, đảng viên và học viên hiểu rõ những giá
trị lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; tin tưởng và làm theo, đi theo hệ tư tưởng, “kim chỉ nam” - chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; đoàn kết, chung tay thực hiện mục “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW,
ngày 09-02-2018, của Ban Bí thư Trung ương khóa XII “Về tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.
Thư năm, phân tích, chứng minh và luận giải chỉ
rõ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh của Đảng ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội, đặc biệt là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất
nước từ khi đổi mới đến nay. Từ đó, giúp cho học viên nắm vững chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như đường lối, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Thư sáu, nghiên cứu, quán triệt và vận dụng tinh
thần Nghị quyết Trung ương
4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Chỉ rõ
sự suy thoái, tha hóa, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước của một bộ
phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ trung, cao cấp để lại những hậu quả
hết sức nghiêm trọng, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh
đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó, nhấn mạnh
việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải đi đôi với việc giải
quyết và xử lý kịp thời, có hiệu quả đối với tệ quan liêu, tham nhũng và các
biểu hiện tiêu cực khác. Trước hêt là trong nội bộ Đảng, trong hệ thống chính
trị và trong toàn xã hội./.
V3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét