KHẲNG ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN NHẤT QUÁN HÒA HỢP DÂN
TỘC ĐỂ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI PHỒN VINH, HẠNH PHÚC
Thấm nhuần những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một ý
chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh
thủ thống nhất và độc lập cho tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành
một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt
đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại” và
vì “TỔ
QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc”, từ sau ngày 30/4/1975, trên cơ sở
lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm điểm tương đồng, hòa hợp, hòa giải dân tộc
luôn là một chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Trong đó,
kiều bào ta định cư ở nước ngoài, không phân biệt ý thức hệ, xuất thân, kể cả
những người còn định kiến, mặc cảm với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… cũng
đã được tạo điều kiện để về thăm và góp sức xây dựng quê hương, đất nước.
Chúng ta cần tiếp tục khẳng định rằng:
Một là, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư
tưởng Hồ Chí Minh “là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính
trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn
phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự
Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(10).
Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ
Chính trị khóa VII về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống
nhất cũng đã khẳng định “đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt
Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong
nước và người định cư ở nước ngoài”. Việc thực hiện Nghị quyết này đã góp phần
nhân nguồn sức mạnh của dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế.
Việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 36-NQ/TW
khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và sau đó là Chỉ thị số
45-CT/TW, tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán: người Việt Nam đang sinh
sống, lao động, học tập ở nước ngoài là một “bộ phận không tách rời và là nguồn
lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường
quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”; là minh chứng sinh động
cho thấy nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được nhân
lên gấp bội.
Vì thế, việc các kiều bào ta ở nước ngoài về
nước thăm quê hương hay ở lại sinh sống và cùng góp sức xây dựng đất nước đều
đáng trân trọng. Và cũng vì thế, khi chiến tranh đã lùi xa, khi khát vọng về
một nước Việt Nam phát triển hùng cường, hạnh phúc đã trở thành ý chí và quyết
tâm của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì những chiêu trò bịa đặt, bôi
đen, xuyên tạc để kích động lòng thù hận, sự cố chấp... hòng phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc đều là những hành động đi ngược lại khát vọng của nhân
dân, có tội với Tổ quốc và tương lai của dân tộc Việt Nam.
Hai là, Đảng và Nhà nước luôn trân
trọng lòng yêu nước chân chính, tinh thần đoàn kết và sự đóng góp về mọi mặt
của mỗi người dân Việt Nam dù đang sinh sống ở trong hay ngoài nước. Song, cũng
kiên quyết xử lý nghiêm khắc đúng theo Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam đối
với những cá nhân, tổ chức có hành động nhằm phá hoại chính sách hòa hợp dân
tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối và cản trở quá trình phát
triển của đất nước. Những hành vi đăng, phát tán thông tin nhằm gây chia rẽ
giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân và lực lượng
vũ trang nhân dân... đều là những thủ đoạn, việc làm sai trái, chỉ cốt gây hằn thù,
kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam.
Vì thế, Luật An ninh mạng ra
đời là hoàn toàn phù hợp và chính đáng, nhằm góp phần phòng ngừa, đấu tranh làm
thất bại các hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống
Nhà nước; tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc; kích động biểu tình, phá rối an ninh… Luật An ninh mạng
ra đời là để góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những hành vi thù địch, phản
động gây ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội của đất nước Việt Nam, chứ không phải là “vi phạm nhân quyền” như những
giọng điệu đã và đang cố tình xuyên tạc, bóp méo.
Ba là, ngày 30/4/1975 đã làm thay đổi vận mệnh của
dân tộc Việt Nam. Dù có một bộ phận người ở phía bên kia chiến tuyến đã từng
chọn con đường di tản, tha hương, song, “vết sẹo ly hương” đã được thời gian
chữa lành bởi chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
đại đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc. Đã có nhiều kiều bào trở về Tổ quốc
sinh sống hoặc góp sức xây dựng quê hương, đất nước.
Sau ngày 30/4/1975, cũng đã có rất nhiều cán
binh của chế độ cũ lựa chọn ở lại Tổ quốc, tham gia học tập cải tạo, rồi sinh
sống, làm ăn và phát triển tại quê hương. Có thể cuộc mưu sinh ban đầu ở thời
“hậu chiến” khó khăn hơn so với cuộc sổng đủ đầy của họ trước đó khi được “tài
trợ nhân đạo”, song tâm trí “những người ở lại” chắc chắn thanh thản hơn, bình
an hơn mỗi độ Tết đến, Xuân về, mỗi dịp đất nước, quê hương, gia đình có lễ
trọng... Bởi thế, tâm lý cực đoan, sự sân hận, hay “nỗi niềm tủi nhục”, nếu có,
thì cũng chỉ là nhất thời, chắc chắn không phải không phải “truyền đời” và
không thể “nuôi dưỡng” hòng “thổi bùng lên ngọn lửa trả thù” như những giọng
điệu xuyên tạc, bôi đen, kích động của các phần tử cơ hội, phản động vẫn rêu
rao!
Có một thực tế là, một nước Việt Nam thống
nhất ngày càng phát triển; ngày càng có vị thế trên trường quốc tế vẫn không
làm cho một bộ phận nhỏ những người bất mãn, cố chấp luôn mộng hồi về “chế độ
xưa”, ôm giữ sự bảo thủ và ích kỷ - không hề biết trân quý giá trị của độc lập,
tự do, hạnh phúc. Cũng bởi thế mà họ lại vô tình hoặc cố ý “tiếp tay” cho những
kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân; “tiếp tay” cho sự thù hận, ích kỷ, bẻ
cong sự thật lịch sử. Dù đã rời bỏ Tổ quốc sau ngày 30/4/1975 vì không
chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; không thừa nhận, không tin
theo con đường mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn, nhưng một bộ phận người mang
dòng máu Việt, dù đang sinh sống ở hải ngoại, dù không thiếu thốn về vật chất,
nhưng họ vẫn không chịu “cởi bỏ” tâm lý hằn học, hận thù. Bởi thế, cứ đến “mùa
này” là họ lại rên rỉ tiếng kêu “phục quốc”; xuyên tạc, phủ nhận những quyết
sách, nỗ lực của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị Việt Nam trong việc
thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, hòa hợp dân tộc nói riêng... Dù
thế nào thì đây cũng là những tiếng nói trái đạo lý, bởi nó reo rắc tâm lý bất
an trong cộng đồng. Chúng ta kiên quyết đấu tranh, lên án và bác bỏ những việc
mượn danh “yêu nước”, “dân chủ” hay “đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền”
để bóp méo sự thật lịch sử, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc, về hòa hợp dân tộc.
Chúng ta cần tiếp tục làm rõ và khẳng định,
nhờ có truyền thống yêu nước và đoàn kết, đồng lòng mà 54 dân tộc anh em - cùng
chung Quốc Tổ là Hùng Vương - đã vượt qua mọi gian lao, thử thách để chống chọi
và chiến thắng được thiên tai, địch họa, dịch bệnh; không ngừng phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội… xây đắp non sông ngày càng giàu mạnh. Với đường lối, chủ
trương đúng đắn của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày
càng được bổ sung, hoàn thiện; với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
không phân biệt tôn giáo, giai tầng... sau 48 năm “non sông thu về một mối”,
đại đa số “con Lạc cháu Hồng” đã và đang luôn kiên trung, tin tưởng, chung tay
dựng xây một đất nước Việt Nam thống nhất ngày càng phát triển vững mạnh.
Với chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc
trên tinh thần bao dung, nhân ái Hồ Chí Minh: “Sông to, biển rộng, thì bao
nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa
cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ”, nên “đất
nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững
bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững
đất nước”.
Sự thật là, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng đã không chỉ bảo vệ được giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông, giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc, mà luôn đồng tâm chung sức xây dựng quê hương - đất
nước ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Vì thế, những luận điệu lạc lõng, hằn
học, ảo tưởng nhằm khơi lên hận thù, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, xuyên
tạc chính sách hòa hợp dân tộc... không chỉ là những thù đoạn, hành động sai
trái, thâm độc, mà còn là chống lại nhân dân, đi ngược lại những khát vọng
thiêng liêng, chính đáng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa!./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét