Quan điểm cho rằng, chủ nghĩa
Mác - Lênin là đúng đắn nhưng chỉ đúng đắn trong điều kiện Cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí.
Còn hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (Big
data). Hay nói như một số nhà lý luận phương Tây là thời đại “hậu công nghiệp”,
kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin
không còn phù hợp nữa. Trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã
sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng
và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về
vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong
điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp
công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất
hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai
của nhân loại. Những quan điểm cho rằng thế giới đã có sự thay đổi “quyền lực”.
Chẳng hạn, Alvin Toffler cho rằng “quyền lực” trong quá trình vận động và phát
triển của chính bản thân nó đã trải qua các hình thức phát triển: Đi từ “bạo
lực quyền, đến của cải quyền, rồi đến tri thức quyền” hay có người gọi là “trí
quyền”. Nghĩa là thuở hoang sơ, phải dùng sức mạnh bạo lực mới có quyền lực như
thông qua xâm lược, ăn cướp,...; sau đó kẻ nào có tiền là có quyền lực và đến
hiện nay, ai có trí tuệ, có tri thức là có quyền lực (trí quyền). Nếu thoáng
qua chúng ta thấy có vẻ hợp lý, bởi lẽ trong một xã hội chưa hoàn thiện, còn
dựa trên sở hữu tư nhân thì kẻ nào có tiền thì kẻ đó có quyền lực. Nhưng thực
chất ở đây, Alvin Toffler muốn khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã
thay đổi, không còn xâm lược hay bạo lực nữa, có tiền cũng không có quyền lực
nữa, giai cấp công nhân không còn vai trò sứ mệnh lịch sử giải phóng lao động
nữa mà tầng lớp trí thức mới đóng vai trò này trong xã hội hiện đại. Nếu tách
quyền lực ra khỏi sản xuất vật chất, ra khỏi kinh tế thì quyền lực không còn cơ
sở để tồn tại nữa. Xét về bản chất, quyền lực vẫn do kinh tế quyết định. Trong
tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen khi phê phán Đuyrinh vì không hiểu bạo lực
đã viết “vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, tình
hình kinh tế cung cấp cho bạo lực những phương tiện để tạo ra và duy trì những
công cụ bạo lực”1. Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng “bất cứ ở đâu và bất
cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái đã
giúp cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó
thì bạo lực không còn là bạo lực nữa”2. Điều này hoàn toàn phù hợp, tương thích
với quyền lực. Do vậy, nếu có tri thức nhưng không có điều kiện kinh tế, điều
kiện vật chất để chuyển hóa những tri thức ấy thành của cải vật chất thì tri
thức ấy cũng không có vai trò gì. Cho nên cách tiếp cận của Alvin Toffler chỉ
là một cách xa rời khôn khéo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
mà thôi.
Quan điểm khác cho rằng chủ
nghĩa Mác - Lênin do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển là
sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa của châu Âu là chủ yếu. Mà đó lại
là châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Do vậy, đối với châu Âu hiện nay thì
nó không còn phù hợp. Đối với châu Á thì càng không phù hợp. Bởi lẽ, châu Á có
sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác
châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, Trung Quốc,
Lào, Triều Tiên,... Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền
tảng, cơ sở, do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không thể và không nên vận dụng
vào Việt Nam. Vì vậy, không nên lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng cho dân tộc Việt Nam. Đúng là các châu lục khác nhau
có những đặc thù khác nhau trong quá trình vận động, phát triển. Nhưng như thế
không có nghĩa mỗi châu lục phải có nền toán học, vật lý, hóa học, hay khoa học
nói chung riêng biệt. Tại sao các dân tộc khác nhau ở những châu lục khác nhau
họ có thể hiểu được các tác phẩm văn học, nghệ thuật, những tác phẩm điện ảnh
v.v. của nhau được? Họ hiểu được những điều này là bởi lẽ, mặc dù giữa các dân
tộc có sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý nhưng họ đều dựa trên những
tri thức khách quan, những quy luật khách quan được phản ánh trong các tác phẩm
văn học, nghệ thuật, điện ảnh đó. Chính những tri thức khách quan, chính cái
quy luật khách quan hay nói khác đi chính cái biện chứng khách quan đã quy định
cái biện chứng chủ quan trong đầu óc họ. Các tri thức khách quan, các quy luật
khách quan không phụ thuộc vào ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, chỉ phụ
thuộc vào nội dung khách quan mà nó phản ánh. Các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa,
phong tục, tập quán... chỉ làm cho các tri thức khách quan, các quy luật khách
quan được phát hiện, trình bày mang thêm sắc thái chủ quan khác nhau mà thôi
chứ nội dung khách quan mà chúng phản ánh vẫn là một, là không đổi. Đúng như
V.I.Lênin đã viết “Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính trừu
tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh
thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc”3.
Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn
được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản
ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người, trong đó có quy
luật: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là
tất yếu như nhau”4. Chính vì vậy, giai cấp tư sản không thích thú gì với học
thuyết khoa học chỉ ra rằng chính họ - chính giai cấp tư sản - sẽ bị sụp đổ cả.
Vì vậy, việc họ quyết liệt chống đối, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và những
chủ thuyết dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin là điều không khó hiểu.
Có quan điểm đồng nhất sự sụp
đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội nói chung, sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ
nghĩa xã hội nói riêng. Từ đây, họ ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ.
Cho rằng chính chủ nghĩa xã hội dân chủ là mô hình phát triển phù hợp với thế
giới đương đại, vừa tích hợp được những mặt mạnh của chủ nghĩa tư bản với mặt
mạnh của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng những nước đi
theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những bất cập nhất định nhưng tốc độ
phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải
quyết tốt hơn các nước đi theo chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, các nước đi theo chủ
nghĩa xã hội thường xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán. Chính
tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán đã cản trở xã hội phát triển lành
mạnh. Họ thường đồng nhất những yếu kém, hạn chế của chủ nghĩa xã hội hiện
thực, hay những sai lầm, hạn chế của một số đảng cộng sản để minh chứng cho sự
không đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.
Những loại ý kiến này đều sai
lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình chủ nghĩa xã hội sai lầm với chủ nghĩa
Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Họ cố tình làm ngơ trước những thành
tựu của chủ nghĩa xã hội cải cách, mở cửa, đổi mới ở Cộng hòa Cuba, Cộng hòa
Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Họ đồng nhất hiện trạng tham
nhũng, quan liêu, độc đoán với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không phủ định những
hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã
hội chủ nghĩa, nhưng hiện trạng này cũng tồn tại ở các nước tư bản phát triển,
ở các nước không đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dường như hiện trạng này
tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó là căn bệnh
của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm làm trong
sạch.
V3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét