Thứ Hai, 6 tháng 11, 2023

Những vấn đề cơ bản về dân số phát triển

 


 Dân số: Là những người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó. Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ trái đất. Dân cư của một vùng lãnh thổ có thể được xem xét trên nhiều góc độ: như số dân (quy mô dân số), cơ cấu, phân bố, sức khỏe, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, thời trang, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo…

Quy mô dân số (số dân): Là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất định. Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Ví dụ: Quy mô dân số Việt Nam  từ 0 giờ ngày 01/4/ 2019 là 96.208.984 người.

Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân chia theo giới tính (giới tính nam, hay nữ, tuổi (thông thường được phân chia theo 3 độ tuổi: Độ tuổi từ 0-14 (độ tuổi phụ thuộc); Độ tuổi từ 15 đến 60 (độ tuổi lao động); Độ tuổi từ 60 trở lên (Độ tuổi người già- độ tuổi phụ thuộc), dân tộc (Ví dụ Việt Nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh và 53 DTTS), tôn giáo (Ví dụ Việt nam có 16 tôn giáo trong đó có 6 tôn giáo lớn như: Phật giáo, Công Giáo, Hồi giáo, Ky tô giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài), học vấn (Đại học Cao đẳng, Trung cấp,Trung học – Tiểu học phổ thông), nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân…(chuyên đề: nghiên cứu biến động dân số theo tuổi, giới tính)

Phân bố dân số: Là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa lý, khu vực kinh tế. Ví dụ Dân số ở Việt Nam sống ở khu vực Đồng bằng chiếm khoảng 75% dân số; các vùng miền núi, trung du chỉ chiếm 25% dân số

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét