Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm: công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý. Những yếu tố cốt lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là: trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối (IoT) và dữ liệu lớn (big data). Cuộc Cách mạng này đã và đang tác động mạnh mẽ, tạo ra sự biến đổi to lớn, toàn diện trong xã hội, nhất là lĩnh vực kinh tế, khoa học và quân sự, quốc phòng. Việt Nam đã chủ động triển khai hàng loạt các chủ trương, biện pháp nhằm tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ngày 4-5-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg, “Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52- NQ/TW, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Những chủ trương, chính sách trên là cơ sở cho hoạt động của cả hệ thống chính trị thích ứng với những đòi hỏi mới của thực tiễn.

Trong lĩnh vực quân sự, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động mạnh mẽ, toàn diện, mang đến những bước phát triển cao hơn cùng những thách thức lớn hơn. Nhiều thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được đưa vào ứng dụng rộng rãi; tạo ra các hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, như vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô-bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất. Song, sự phát triển các loại vũ khí công nghệ cao với sức hủy diệt lớn, vừa tạo ưu thế tác chiến, vừa gây tâm lý hoang mang, lo sợ, xuất hiện tư tưởng “vũ khí luận”, coi trọng vũ khí và xem nhẹ vai trò của con người trong chiến đấu. Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng làm xuất hiện các hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới, đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần đặc biệt quan tâm. Từ đó, việc tăng cường các tiềm lực và sức mạnh quân sự đã được các quốc gia đề cao, nhất là năng lực toàn diện của sĩ quan trong quá trình tác chiến với các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại.
Nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã nghiêm túc quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về vấn đề này. Cụ thể, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7-7-2017, của Bộ Chính trị khóa XII, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021 và những năm tiếp theo; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 2523/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhất là Quyết định số 737/QĐ-BQP, ngày 13-3-2018, của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, về việc ban hành Kế hoạch của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng; quyết định và kế hoạch hành động của hệ thống nhà trường quân đội trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn 2018 - 2020 và những năm tiếp theo.
Trong những năm qua, các nhà trường và cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện, từng bước thích ứng và nâng cao năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tích cực triển khai mô hình “Nhà trường thông minh”, đổi mới đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được kiện toàn về cơ cấu, số lượng; nâng cao về phẩm chất, năng lực, nhất là trình độ tin học, ngoại ngữ. Hiện có 98,07% nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở các nhà trường quân đội có trình độ đại học, trong đó có 8,9% là tiến sĩ, 40,51% là thạc sĩ; nhiều đồng chí đạt chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, giảng viên giỏi cấp quốc gia và cấp Bộ Quốc phòng(1).
Các đơn vị trong toàn quân cũng tăng cường công tác huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ. Công tác bồi dưỡng, tập huấn đã tập trung vào việc nâng cao năng lực làm chủ vũ khí, trang bị cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội nhằm phát huy cao nhất khả năng tác chiến, ứng phó với mọi tình huống, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó, “các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 765- NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo. Chỉ đạo tổ chức tốt các cuộc diễn tập, luyện tập ở các cấp và tổ chức bắn kiểm tra các loại vũ khí trang bị, hỏa lực, đặc biệt là các cuộc diễn tập quy mô lớn với nhiều nội dung, phương pháp mới. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện, diễn tập ở các cấp; chỉ đạo các cuộc hội thi, hội thao, nhất là tham gia hội thao quân sự quốc tế đạt thành tích tốt, được đánh giá cao”(2).
Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội thời gian qua vẫn còn tồn tại những bất cập. Một số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về trình độ tin học, ngoại ngữ, năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc xây dựng “Nhà trường thông minh” còn gặp khó khăn về năng lực quản lý, vận hành hệ thống các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Năng lực làm chủ vũ khí trang bị hiện đại và quản lý, chỉ huy bộ đội của một số cán bộ trẻ, cán bộ mới ra trường còn hạn chế. “Chất lượng công tác huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị mới, huấn luyện đêm, huấn luyện ứng phó với an ninh phi truyền thống có nội dung hạn chế; một số nội dung, chương trình huấn luyện, đào tạo ở nhà trường chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị; chất lượng dạy, học ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và làm việc trong môi trường quốc tế; khả năng khai thác, làm chủ và nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí mới, vũ khí công nghệ cao còn nhiều hạn chế, nhất là làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi; chậm cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương xây dựng Tổ hợp công nghiệp quốc phòng”(3).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét