Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2020

BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT

Tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được thừa nhận và hiến định trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, quyền này đã được bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định năm 1946 và thực hiện nhất quán trong suốt quá trình cách mạng. Các thế lực thù địch phản động đã xuyên tạc, lạm dụng quyền này của công dân để "lộng ngôn" trên các trang mạng xã hội, các diễn đàn nhằm kích động, gây chia rẽ, mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Dân Cày xin giới thiệu toàn văn bài của tác giả Thiện Văn đăng trên báo điện tử Vietnamnet với tiêu đề: "BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN CHỨ KHÔNG CỔ SÚY NGÔN LUẬN TỰ DO"
Dưới đây là toàn văn bài viết:

Tự do ngôn luận là quyền chính đáng, khát vọng chân chính và nhu cầu của con người. Việc bảo đảm tự do ngôn luận là một trong những thước đo thể hiện sự văn minh, ưu việt của thể chế chính trị.
Nhận thức sâu sắc điều đó, nhiều năm qua, Việt Nam đã kiên trì, nỗ lực thực hiện các giải pháp để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận cho người dân.        
Kiến tạo hành lang pháp lý rõ ràng, nhất quán
Nói đến quyền tự do của ngôn luận, không thể không nhắc đến một sự kiện đáng chú ý cách đây 74 năm. Sau khi chính thức tuyên bố thành lập chính phủ cách mạng công nông với thể chế chính trị là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội khóa 1 nước ta đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên ngày 9/11/1946, trong đó điều 10 hiến định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Không ngẫu nhiên mà khi hiến định 5 quyền tự do cơ bản đó của công dân, quyền tự do ngôn luận được xếp ở vị trí đầu tiên. Bởi Chính phủ cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã sớm nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo đảm tự do ngôn luận cho công dân là cơ sở để mở rộng, phát huy vai trò làm chủ của người dân và khơi nguồn sức mạnh ý chí, trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Điểm đáng nói là Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hiến định quyền tự do ngôn luận cho công dân sớm hơn trước 2 năm so với bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948. Điều đó thêm một lần khẳng định lịch sử lập hiến Việt Nam gắn liền với lịch sử hiến định quyền tự do ngôn luận của công dân, qua đó thể hiện tinh thần nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận cho người dân.
Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do
Nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân được thực hiện trong cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành luật Tiếp cận thông tin và luật Báo chí. Trong đó, điều 3 luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.
Điều 11 luật Báo chí năm 2016 cũng có những quy định cụ thể để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, đó là công dân được quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân.
Như vậy, về mặt pháp lý, nước ta đã xây dựng những chính sách phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình trong cuộc sống.
Nhận thức và thực thi đúng quyền tự do ngôn luận
Bấy lâu nay, khi nói đến quyền tự do ngôn luận, một số người suy nghĩ rằng, tự do ngôn luận là được quyền tự do nói năng, phát ngôn, bình luận, chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ sự ngăn cản nào; vì thế nếu ai hạn chế quyền nói năng, phát ngôn, chia sẻ thông tin của người khác là vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân.
Nhận thức như vậy là phiến diện, sai lầm và ngụy biện. Bởi trên thực tế, không có quyền tự do nào là tuyệt đối, mà chỉ có quyền tự do tương đối. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn luận cũng vậy. Nếu ai cũng nói năng bừa bãi, phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng - sai, thật - giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng rối nhiễu thông tin, mà còn có thể tạo ra những cuộc khủng hoảng thông tin xã hội một cách trầm trọng, từ đó gây mất ổn định an ninh chính trị.
Những tháng đầu năm 2020, hầu hết các nước trên thế giới bị ảnh hưởng, lây lan bởi đại dịch Covid-19. Người dân các nước, trong đó có người dân Việt Nam không chỉ đối mặt với virus nguy hiểm này, mà còn phải đối mặt với vấn nạn tin giả bị phát tán tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt.
Nhận thức rõ vấn nạn tin giả làm rối nhiễu, hoang mang dư luận xã hội, các cơ quan chức năng ở nước ta đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn tin giả trên mạng xã hội nhằm bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống, kiểm soát đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, có một phần bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; đồng thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hàng trăm đối tượng cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để đăng tải, phát tán thông tin sai trái về dịch bệnh trên mạng xã hội.
Kinh nghiệm thực tiễn ở các nước trên thế giới cho thấy, để bảo đảm quyền tự do ngôn luận một cách chính đáng cho công dân, nhất thiết phải tạo ra những khuôn khổ pháp lý, chế tài phù hợp để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để đăng tải, chia sẻ, phát tán những thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, gây hoang mang dư luận xã hội, làm méo mó hình ảnh thể chế, chính quyền.
Tự do ngôn luận khác với ngôn luận tự do. Điều này đã được đại đa số quốc gia trên thế giới và cả Liên hợp quốc đều lưu ý trong các hiến chương, đạo luật, quy định về các quyền bảo đảm tự do ngôn luận cho con người. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”.
Khoản 2, điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.
Quyền đi liền trách nhiệm. Con người muốn có tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình được làm những gì, không được phép làm những gì. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin thì nhất thiết phải am tường, tuân thủ các quy định pháp luật để thực hiện quyền tự do của mình nhưng không được gây hại đến quyền tự do của người khác và tác động tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, an ninh trật tự xã hội.
Không thể và không bao giờ có tự do ngôn luận cho những “anh hùng bàn phím” bày tỏ ngôn luận tự do, vô trách nhiệm, cố tình đăng tải, phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt, ăn không nói có, đổi trắng thành đen, xuyên tạc truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam, bôi nhọ anh hùng dân tộc, phỉ báng chính quyền, mà thực chất là thông qua mưu đồ sử dụng chiêu bài tự do thông tin, tự do ngôn luận để lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, mục đích đen tối và tạo ra một góc nhìn sai trái về Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam.
Thiện Văn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét