Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, phản ánh bản chất bóc lột lao động làm thuê của
giai cấp tư sản. Do sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, nhất là sự điều chỉnh
về quan hệ sản xuất: Trong mấy thập kỷ qua, Chủ nghĩa tư bản có những thay đổi
lớn là do đã nhanh chóng nắm bắt và tận dụng được những thành tựu mới nhất của
cuộc cách mạng khoa họcvà công nghệ, cải biến các lĩnh vực của đời sống xã hội,
trước hết là lĩnh vực kinh tế, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu
sản xuất, tạo ra một cơ cấu đa dạng, thúc đẩy sự “bùng nổ” và cạnh tranh của
nhiều ngành sản xuất, góp phần tăng nhanh sản xuất xã hội. Mặt khác, do áp lực
đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong các nước chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa xã hội nên chủ nghĩa tư bản đã thực hiện những điều chỉnh theo
hướng thích nghi hơn, năng động hơn. Ví dụ: công nhân có cổ phần, được chia lợi nhuận trong các
công ty, đời sống người lao động có phần được cải thiện..., mâu thuẫn này hiện nay, về mặt hình thức biểu
hiện (bề ngoài) có vẻ lắng dịu, nhưng thực chất, ở các nước tư bản, sự thống
trị bóc lột của tư bản đối với lao động đang diễn ra tinh vi hơn, quy mô ngày
càng lớn hơn. Sự bóc lột của tư bản đối với lao động đã dẫn tới sự phân cực xã
hội giữa giai cấp tư sản ngày càng giầu có hơn và các tầng lớp lao động ngày
càng nghèo khổ, bần cùng hơn trong xã hội tư bản. Thí dụ ở Mỹ, hiện 1% số người
giầu nhất đã nắm giữ 53% tổng lượng cổ phiếu, 64% chứng khoán, tài sản của số
người này chiếm hơn 1/3 tài sản quốc gia của Mĩ; trong khi đó số người nghèo
đói năm 2003 ở Mĩ là 35,9 triệu người, trung bình cứ 8 người thì có 1 người
sống dưới mức nghèo khổ, 3,5 triệu người không có nhà cửa[1].
Trên quy mô toàn cầu thì sự thống trị, bóc lột của tư bản thông qua các công ty
xuyên quốc gia đối với lao động, đặc biệt là đối với lao động ở các nước đang
phát triển và kém phát triển có mặt còn nặng nề hơn. Theo báo cáo của Liên hợp
quốc về phát triển con người, chỉ trong vòng 5 năm (1995 - 2000): 200 người
giầu nhất thế giới đã tăng gấp đôi số tài sản của họ lên hơn 1000 tỉ USD; trong
khi đó 1,3 tỉ người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân 1USD/1
người/1 ngày vẫn không thay đổi. Tỉ lệ khoảng cách GDP theo đầu người giữa các
nước giầu nhất và nghèo nhất cũng gia tăng nhanh chóng: năm 1820 là 3/1, năm
1913: 11/1, thập niên 1960: 31/1, thập niên 1980: 61/1, thập niên 1990: 72/1,
đến năm 2000 là 86/1[2]. Sự phân
cực giầu - nghèo ngày càng lớn - biểu hiện quy mô bóc lột của tư bản đối với
lao động ngày càng tăng, sẽ đẩy nhanh sự chín muồi của mâu thuẫn giữa tư bản và
lao động. Hệ quả tất yếu của nó là sự bùng nổ xã hội. Các cuộc đấu tranh của
công nhân và các tầng lớp lao động khác chống sự thống trị, bóc lột của chủ
nghĩa tư bản sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Chính cuộc đấu tranh đó sẽ quyết
định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản. Tuy có sự điều chỉnh và thích
nghi, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi về bản chất, vẫn là chế độ áp
bức bóc lột và bất công. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng
cao của LLSX với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩavề TLSX; mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động; giữa chủ nghĩa đế quốc với các nước chậm phát triển;
giữa các trung tâm, các tập đoàn tư bản với nhau v.v…Mặt khác, chủ nghĩa tư bản
đã đẩy sự phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc, đó là phân hoá giàu, nghèo, nạn
thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, sự tha hoá về đạo đức lối sống. Tất cả những
vấn đề trên kết hợp với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trong các nước tư bản sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét