Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

LUÔN VÌ NƯỚC VÌ DÂN, VIỆC ĐẢNG, VIỆC QUÂN ĐỀU TỐT

 LUÔN VÌ NƯỚC VÌ DÂN,

VIỆC ĐẢNG, VIỆC QUÂN ĐỀU TỐT
Là một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ, Đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Gần 70 năm đi theo cách mạng, dù ở bất kỳ cương vị công tác, điều kiện, hoàn cảnh nào, đồng chí cũng cũng cố gắng vượt qua khó khăn, chịu khó rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; là tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, suốt đời “tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”, chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân.
1. Đại tướng là người chiến sĩ cách mạng kiên trung, đã sớm giác ngộ và bước vào hoạt động cách mạng. Năm 1936, khi mới 17 tuổi, đã là thợ dệt ở Hà Nội, tham gia phong trào dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động, đòi các quyền dân chủ, dân sinh của người lao động; khi tròn 20 tuổi, được Đảng giao nhiệm vụ trong Ban lãnh đạo Hội Ái hữu thợ dệt... Ba lần bị bắt, bị bỏ tù, giam cầm và tra tấn dã man nhưng thực dân Pháp và tay sai không khuất phục được ý chí cách mạng của đồng chí. Khi thời cơ đến, đồng chí đã dũng cảm vượt ngục, bị mất liên lạc với tổ chức, nhưng vẫn kiên trì hoạt động và liên lạc với Đảng.
Đồng chí được Đảng giao nhiều trọng trách quan trọng: Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội (1939), Bí thư Đảng bộ Bắc Ninh (1-1944), Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ (4-1944), Ủy viên Thường vụ Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (1945) và trực tiếp phụ trách xây dựng và chỉ huy Chiến khu Quang Trung (gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa), nhằm chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Nhờ đó, khi Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát lệnh tổng khởi nghĩa, các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa đã đồng loạt vùng lên, giành chính quyền.
2. Đại tướng Văn Tiến Dũng là người cán bộ chính trị mẫu mực, tài năng, có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển CTĐ, CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Năm 1946, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) - người đứng đầu cơ quan chỉ đạo chiến lược về CTĐ, CTCT trong Quân đội, đồng chí đặc biệt chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị toàn quân. Trong đó, xác định vấn đề đầu tiên là phải “coi trọng công tác giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức tư tưởng, giác ngộ giai cấp cho mọi cán bộ, chiến sĩ”. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí, Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất (2-1947) đã đề ra 12 điều kỷ luật dân vận, 10 nhiệm vụ của công tác chính trị trong Quân đội ta. Từ đây, xác định đại đội là đơn vị căn bản của công tác chính trị trong Quân đội.
Để khắc phục tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của quân sự, dẫn tới thói kiêu căng, thắng thì kiêu, bại thì nản, coi thường hệ thống công tác chính trị trong Quân đội. Tại Hội nghị “Rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh Quân đội” (5-1949), đồng chí đã phê phán quan điểm quân sự thuần túy và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa đội trưởng và chính trị viên; góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; xây dựng hệ thống cơ quan công tác chính trị và cán bộ chính trị ngày càng vững mạnh trong Quân đội.
3. Đại tướng Văn Tiến Dũng là vị tướng mưu lược, người chỉ huy quân sự tài ba của Quân đội trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với cương vị là Chính trị Ủy viên Liên khu 3, rồi Chính ủy kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng), sau là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí đã sáng tạo quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, dựa vào dân mà chiến đấu; thắt chặt mối quan hệ quân - dân. Đây là một chủ trương rất quan trọng để đánh “nở hoa trong lòng địch”, khiến thực dân Pháp và tay sai bất ngờ, bạt vía, kinh hoàng.
Tháng 11-1953, đồng chí được Đảng, Bác Hồ giao nhiệm vụ là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng Quân ủy. Trên cương vị này, đồng chí đã cùng với các đồng chí trong Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu hoạch định và tổ chức thực hiện thành công nhiều kế hoạch tác chiến chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968); cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng chí là một tài năng quân sự xuất chúng, nhà tham mưu chiến lược tài ba; trực tiếp chỉ đạo tác chiến, điển hình là Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Trị - Thiên (1972), Chiến dịch Tây Nguyên (3-1975)... Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), đồng chí đã được cử làm Tư lệnh. Cùng với Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy Mặt trận, đồng chí đã quyết định chuyển hướng tiến công của Quân đoàn 4 nhằm phá toang “Cánh cửa thép” - tuyến phòng thủ cuối cùng của ngụy quyền, tạo điều kiện thuận lợi để quân ta thọc sâu vào nội đô, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, đồng chí tiếp tục có những cống hiến quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Cống hiến nổi bật của Đại tướng Văn Tiến Dũng là góp phần hoàn thiện lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam; nghệ thuật tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, nòng cốt là Quân đội nhân dân; nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược với các loại hình cơ bản: tiến công, phòng ngự, phản công... Đó cũng là dấu ấn sâu sắc về tư duy quân sự, nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy tác chiến của Đại tướng đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Kỷ niệm 21 năm ngày mất của Đại tướng Văn Tiến Dũng, ôn lại những cống hiến to lớn của Đại tướng đối với cách mạng Việt Nam, đối với dân tộc và Quân đội ta; cán bộ, chiến sĩ toàn quân thêm tự hào về người chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, vị Đại tướng mưu lược, văn võ song toàn; có thêm ý chí, nghị lực, củng cố niềm tin, ra sức phấn đấu, rèn luyện và học tập, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

1 nhận xét: