Trong dòng
chảy lịch sử của dân tộc ta, đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán đường lối “Các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ”, Đảng, Nhà nước ta đã ban
hành hệ thống chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bộ, ưu tiên bố trí nguồn lực để
phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Từ khi được thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều
kiện mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật, khẳng định tôn giáo là nhu cầu của một bộ
phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề nghị ban hành chính sách: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn
kết. Với quan điểm đoàn kết tôn giáo là một bộ phận trong tư tưởng đại đoàn kết
toàn dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Quan
tâm xây dựng thiết chế văn hóa tại chùa, hỗ trợ trùng tu, sửa chữa chùa di
tích, nhất là di tích cấp quốc qua. Có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị của
các thiết chế văn hóa, làng nghề, nghề thủ công, lễ hội truyền thống trong vùng
dân tộc Khmer gắn với phát triển du lịch.Tuyên truyền,
nâng cao nhận thức trong các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong việc bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật dân tộc Khmer Nam Bộ. Hình thành trường đào tạo nghệ thuật
Khmer của khu vực; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về
lĩnh vực văn hóa dân tộc. Đầu tư, hỗ trợ sản xuất các sản phẩm văn hóa của dân tộc để phục
vụ nhu cầu thụ hưởng của đồng bào. Điều chỉnh cơ chế chính sách hỗ trợ các địa
phương vùng đồng bào dân tộc chủ động mua trang thiết bị, sản phẩm, ấn phẩm văn
hóa thông tin phù hợp nhu cầu thực tế từng địa phương.
Quan
tâm công tác đào tạo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ chức sắc. Phát huy vai trò
của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, Ban quản trị chùa và người có uy tín trong
đồng bào dân tộc Khmer đối với công tác vận động đồng bào. Cấp kinh phí đặc
thù hỗ trợ Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước
hoạt động, truyên truyền. Chỉ đạo các bộ ngành có liên quan giải quyết
các tranh chấp, khiếu kiện tại cơ sở có liên quan đến yếu tố chùa chiền, tôn
giáo của đồng bào Khmer ở địa phương, không để phát sinh những vấn đề phức tạp
ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự xã hội. cấp ủy Đảng các cấp ở các
địa phương trong vùng đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác tôn giáo nói
chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng. Qua đó, đã giúp cho hoạt động của
Phật giáo Nam tông Khmer ổn định, đúng hướng tạo niềm tin của sư sãi và tín đồ
đối với Đảng, Nhà nước. Từ năm 1991 đến nay, đã có nhiều vị tiêu biểu trong
đồng bào Khmer đại diện tham gia Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp. NTT
những giái pháp này rất hay
Trả lờiXóa