Từ năm 1950, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến mạnh mẽ tác động sâu sắc đến phong trào cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, từ sau chiến thắng Biên giới (1950) thế và lực của cuộc kháng chiến có bước phát triển vượt bậc, đòi hỏi Đảng ta phải giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách để đưa cách mạng tiến lên.
Trong
bối cảnh đó, từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức
Đại hội đại biểu toàn quốc lần II tại xã Vinh Quang (nay là Kim Bình), huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại
biểu dự khuyết thay mặt cho trên 76 vạn đảng viên. Đại hội thông qua hai bản
báo cáo quan trọng: Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày nêu
nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt thực dân Pháp và
đánh bại can thiệp Mỹ, giành thống nhất, độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế
giới; Báo cáo Luận cương cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình
bày, nêu nhiệm vụ chống phong kiến phải được thực hiện đồng thời với nhiệm vụ
chống đế quốc, nhưng làm từng bước, có kế hoạch... Đại hội quyết định đưa Đảng
ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam và thông qua Tuyên
ngôn, Điều lệ mới, xuất bản báo Nhân dân làm cơ quan ngôn luận của Đảng. Đại
hội quyết định thành lập những tổ chức cách mạng phù hợp hoàn cảnh Lào và
Campuchia. Đảng Lao động Việt Nam có trách nhiệm giúp đỡ tổ chức cách mạng Lào
và Capuchia đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10
ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị do Trung ương chỉ định gồm 7 ủy viên chính thức
và 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng,
đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng.
Với sự tổng kết
thực tiễn phong phú, sinh động, tư duy lý luận khoa học kết tinh trí tuệ của
toàn Đảng và thầm nhuần quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội
có tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá
trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Những nội dung Đại hội xác định
như: “Phải tập trung mọi lực lượng để kháng chiến, đặng hoàn thành nhiệm vụ
giải phóng dân tộc”, “Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại can thiệp Mỹ” đã trở
thành kim chỉ nam, lời hiệu triệu khơi dậy sức mạnh vĩ đại, tinh thần đoàn kết
của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc. Việc khẳng định, sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến tới chủ nghĩa xã hội, quyết
không thể có một con đường nào khác, Luận cương cách mạng Việt Nam đã trở thành
văn kiện có giá trị sâu sắc đối với tiến trình phát triển cách mạng Việt Nam
sau này. Những chủ trương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đại hội II
đến nay vẫn còn nguyên giá trị, Đại hội nêu rõ: “Muốn xây dựng, củng cố và phát
triển Đảng…, phải phát triển phê bình và tự phê phê bình; cùng với phê bình và
tự phê bình “Đề cao công tac lý luận trong Đảng”, phải “Tổng kết kinh nghiệm để
luôn bồi bổ cho chính sách của Đảng và định ra những chính sách cụ thể của
Đảng, đúc kết những kinh nghiệm lớn thành lý luận vận động cách mạng của Đảng
ta”..
Nhìn
lại chặng đường 72 năm qua, chúng ta càng thấu hiểu và nhận thức rõ, đây là
những bài học vô cùng quý báu về sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam,
càng có tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc hơn đối việc đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là việc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đồng bộ, ngang
tầm nhiệm vụ, đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Ảnh: Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ II họp tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Từ ngày 11 đến
19-2-1951)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét