Việc tồn tại một đảng, lưỡng
đảng hay đa đảng ở từng nước là do những điều kiện lịch sử cụ thể lựa chọn,
không có khuôn mẫu chung cho tất cả các nước. Trong các văn kiện chính trị -
pháp lý ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là vấn đề có tính nguyên
tắc, được khẳng định một cách nhất quán, rõ ràng. Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã
khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã
hội”. Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xứng đáng và tin cậy
của dân tộc và nhân dân; nhân dân trao cho Đảng sứ mệnh lãnh đạo đất nước, dẫn
dắt dân tộc Việt Nam tiến bước cùng thời đại, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là
sự thật hiển nhiên, đã được khẳng định từ lý luận và thực tiễn.
Xét về phương diện lý luận, vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là tất yếu,
khách quan. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là
một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức
và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chứng tỏ
rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước.
Hai là, nhìn nhận từ cơ sở
chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính
danh, hợp hiến và hợp pháp. Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm
1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 1 điều quy định, Đảng Cộng sản Việt Nam là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này phù hợp với xu hướng chung của
thế giới hiện nay, không phải là cá biệt. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng
sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”.
Điều lệ Đảng quy định: “Đảng
Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng
thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các
văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên
quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng “đơn phương” quy định. Đây là một
yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và
Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề
nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.
Trên phương diện lịch sử, thực
tiễn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân
tộc đưa đến những thành tựu mang tính bước ngoặt của lịch sử. Từ khi ra đời cho
đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc đấu
tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và
giành được những thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách
thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa
dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi trong các cuộc kháng
chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ
quốc tế, đưa cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, đi lên CNXH.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
trong công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử, phát triển toàn diện, bền vững so với trước đây. Đến nay, quy mô kinh
tế được nâng lên, vượt qua 400 tỷ USD/năm; đời sống nhân dân cả về vật chất và
tinh thần được cải thiện rõ rệt, đạt trên 4.000USD/người/năm; văn hóa, xã hội
phát triển, quốc phòng, an ninh giữ vững, đối ngoại mở rộng... Tất cả những
điều đó được khái quát như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định “Đất nước ta
chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Không thể phủ nhận, trong lãnh
đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm. Đảng đã nghiêm túc phê bình, tự phê
bình, sửa chữa khuyết điểm trên tinh thần “tự soi, tự sửa”, tự đổi mới, chỉnh
đốn để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của
Đảng. Trong quá trình phát triển, cũng như ở các quốc gia đa đảng, không tránh
khỏi những tồn tại, hạn chế, nhất là vấn đề tham nhũng, tiêu cực, suy thoái
nhưng vấn đề quan trọng là Đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật để chỉnh đốn, để
xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.
Thế nhưng, các thế lực thù
địch, cơ hội chính trị lại cố tình đi ngược lại sự thật, cố tình thổi phồng
những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo
trong điều kiện mới, quy kết vì độc đảng nên tham nhũng, tiêu cực. Rõ ràng đây
là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm kích động, chia rẽ nội
bộ, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong.
Đề cương văn hóa Việt
Nam 1943 ra đời cách nay 80 năm, được ví như tuyên ngôn đầu tiên của Đảng về
văn hóa và có ý nghĩa khai sáng, mở đường cho văn hóa Việt Nam phát triển.
Tuy nhiên, một số
người có nhận thức sai lệch, thậm chí xuyên tạc, phủ nhận những giá trị cơ bản
của đề cương này, qua đó ngầm ý phủ nhận đường lối văn hóa của Đanghr Cộng sản
Việt Nam.
Nhận thức sai lệch,
thái độ định kiến là không công bằng với lịch sử
Năm 2023 tròn 80
năm Đề cương văn hóaViệt Nam 1943 (gọi tắt là Đề cương) của Đảng ra đời. Nếu
coi Đề cương này là tuyên ngôn đầu tiên của Đảng về văn hóa nói chung và cuộc
cách mạng văn hóa theo tinh thần mác-xít nói riêng thì các hội nghị văn hóa
toàn quốc, các Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Nghị quyết số 33-NQ/TW của
Đảng khóa XI là những bổ sung, điều chỉnh các mục tiêu cụ thể của đường hướng
được vạch ra từ “đêm trước” của cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân
dân, là điểm mở đầu cho việc xây dựng một nền văn hóa mới.
Nhìn vào thực tế có thể thấy rất rõ 3 phương
châm “Dân tộc, khoa học, đại chúng” được vạch ra từ Đề cương cho đến nay vẫn
còn giữ được tính khoa học và thời sự. Với một tư tưởng, một luận thuyết, 80
năm là khoảng thời gian ngắn để đánh giá sức sống của nó, nhưng có thể thấy
những thành tựu của cuộc cách mạng xã hội có phần đóng góp to lớn của cách mạng
văn hóa. Yêu cầu đầu tiên của một đề cương là nhằm chỉ đạo và tổ chức hành động
nhất quán, đúng hướng. 3 phương châm (còn gọi là 3 nguyên tắc) “Dân tộc, khoa
học, đại chúng” chỉ được nói tới rất ngắn gọn và trong thực tiễn, có nơi, có
lúc còn hiểu chưa đúng, còn đơn giản hóa những phương châm này, nhưng về đại
thể, khó ai có thể phủ nhận được những thành tựu của cuộc cách mạng văn hóa mà
Đề cương đã chỉ ra.
Do tính chất cứu quốc của bản Đề cương như một
chương trình, cương lĩnh hành động của Đảng nên 3 nguyên tắc ấy được giải thích
rất ngắn gọn. “Dân tộc hóa” của nền văn hóa mới là chống lại những ảnh hưởng
của văn hóa nô dịch và văn hóa thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam không thể
phát triển độc lập. Nó chống lại tất cả các xu hướng văn hóa không vì dân tộc
Việt Nam. “Khoa học hóa” là chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa thiếu
tính khoa học và phản tiến bộ. Còn “đại chúng hóa” được giải thích là chống lại
những xu hướng tư tưởng, những thứ văn hóa mị dân khiến cho văn hóa Việt Nam
phản lại quyền lợi của đông đảo đại chúng, xa lánh đại chúng. Mấy năm sau, tại
một hội nghị quan trọng về văn hóa, trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa
Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh với tư cách là Tổng Bí thư của Đảng đã nói đến
những nguyên tắc trên với tinh thần quyết liệt hơn. Từ những căn cứ này có thể
nói, 3 nguyên tắc mới của văn hóa Việt Nam được nêu ra từ trước ngày giành
chính quyền về tay nhân dân thấm đẫm tinh thần cứu quốc, hành động và thiết
thực chứ không phải là những nghiên cứu mang tính lý thuyết xa rời thực tiễn.
Tinh thần ấy xuyên suốt những năm sau này, cả trong hai cuộc kháng chiến vệ
quốc, thời kỳ xây dựng đất nước và hội nhập. Nó chỉ được điều chỉnh, bổ sung
những yếu tố mang tính bộ phận, chiến thuật chứ về mặt đường hướng thì nhất
quán cho tới bây giờ.
Tuy nhiên, lâu nay, không ít người đã cố tình
hiểu sai đường hướng mà Đề cương vạch ra khi căn cứ vào những ý kiến cụ thể
trong những tình huống cụ thể, hay đem những lý giải của thời kỳ, một ý kiến,
luận điểm nào đó được đưa ra rồi gán cho nó những điều ở ngoài nó, khái quát
thành các luận điểm mang tính khái quát nhưng lại thiếu chính xác về mặt khoa
học nhằm “kết tội” đường hướng văn hóa do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là chính
trị hóa văn hóa, áp đặt, sai lầm, thậm chí đòi phải từ bỏ nguyên tắc này hay
nguyên tắc khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét