Đấu tranh
làm thất bại luận điệu xuyên tạc về chính sách đối với đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam
Chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là
một trong những thủ đoạn cơ bản, xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức
chống phá đối với cách mạng nước ta. Để thực hiện mưu đồ đó, chúng ra sức lợi
dụng những khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc trong cuộc sống; lợi dụng
những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; đặc biệt, chúng
triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị,... để xuyên
tạc, hạ thấp, phủ nhận thành tựu công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nói
chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, bằng nhiều thủ
đoạn ngày càng công khai và trực diện hơn.
Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là:
“Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Ngay
từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở tiếp
thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ
truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đây là vấn đề có
ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng.
Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân
tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành
nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12/3/2003) về Công tác dân tộc. Cùng
với đó, Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần
hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính
sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Riêng từ năm 2010 đến
nay, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính
sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững;
giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ
là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về
truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật, v.v. Đặc
biệt, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số
88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện
Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 1719/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Điều
đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam
đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự phân biệt đối xử như các
thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.
Thành
tựu về thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là không thể phủ nhận. Theo đó, công tác
phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những
tiến bộ; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Với chủ trương, đường
lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những năm qua,
quy mô, mạng lưới trường, lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố,
phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ
thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố,
tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển
khai Đề án củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều
lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay,
đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245
học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia.
Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được
nâng lên qua từng năm học.
Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát
triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình
hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2011 - 2015,
Nhà nước đã đầu tư khoảng 135.000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước3)
giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế
của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao, giai đoạn 2016 - 2018 đạt bình
quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu
số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn
vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 04%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn,
giảm trên 04%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm trở lên. Giai
đoạn 2015 - 2019, đã có 08/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP,
ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát khỏi tình
trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện
đầu tư của Chương trình 135. Từ năm 2013 - 2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói
chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều
kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, Chính phủ tập
trung xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số và miền
núi, chủ yếu là đường giao thông, nhất là đường giao thông đến trung tâm các xã
hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng; hệ thống
điện, thủy lợi, cầu dân sinh, cầu treo, các công trình nước sạch, trường, lớp
học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi có ý nghĩa quyết định
đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều
trường, lớp học, trạm y tế xã được xây dựng mới, kiên cố hóa; trang thiết bị
thiết yếu phục vụ dạy và học, khám chữa bệnh được đầu tư mới. Đến nay, 100%
huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã;
100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử
dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có
trường mầm non, mẫu giáo; 99,3 % xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn
có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng.
Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các
dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”,
trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Để thực hiện chủ
trương này, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg
về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa
các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ đó, văn hóa truyền thống của các dân tộc
được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào
các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các
giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa
Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo
tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, hầu hết các
xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng
nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương
trình bằng tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Cùng với đó, tiếng nói,
chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách
bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, như: quy định
việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo
dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn
30 tỉnh, hơn 600 trường tổ chức dạy, với hàng trăm nghìn học sinh theo học
tiếng dân tộc. Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín
ngưỡng được đảm bảo; đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo,
tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Có thể khẳng định rằng, với hệ thống chính sách dân
tộc được hoàn thiện, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình
đẳng về chính trị, văn hóa truyền thống được bảo tồn; chữ viết, tôn giáo, tín
ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân được bảo đảm, đã làm
thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống
vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn được cải thiện. Đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, là những minh chứng hùng hồn phản bác lại luận
điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị
ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét