Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2023

BẢO VỆ NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Vấn đề nhà nước pháp quyền là một giá trị tư tưởng được tích lũy trong lịch sử nhân loại. Sự hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ, loại trừ chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật,... Ở nước ta, tư tưởng về nhà nước pháp quyền cũng đã xuất hiện từ lâu, thể hiện đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền”, nhưng tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền đã rất rõ. Trong “Việt Nam yêu cầu ca”, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994). Từ đó khái niệm này được sử dụng chính thức trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng định hình và thực hiện trên thực tế.

Những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử.

Trong lịch sử nhân loại, tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ rất sớm trong các học thuyết triết học, pháp luật của các nhà tư tưởng và ngày càng được hoàn thiện theo sự phát triển của lịch sử. Các quan điểm này được hình thành và phát triển từ nhu cầu phát triển của xã hội và đặc biệt là việc cần thiết phải bảo vệ lợi ích của công dân trong xã hội.

          Tư tưởng nhà nước pháp quyền xuất hiện từ thời kỳ cổ đại, được phát triển, bổ sung qua các thời kỳ trung, cận đại. Đặc biệt, đến thời kỳ chuẩn bị cho cách mạng tư sản, tư tưởng nhà nước pháp quyền đã được các nhà lý luận tư sản phát triển, hệ thống hóa thành các học thuyết và đã trở thành hiện thực ở nhiều nước tư bản phương Tây. Sự phát triển lý luận học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản chịu ảnh hưởng của hai luồng tư tưởng: Một là, sự khẳng định ngày càng cao những quan điểm mới về tự do của con người, thông qua việc tôn trọng tính tối cao của pháp luật - pháp luật tự nhiên. Hai là, xác lập mối tương quan giữa quyền lực chính trị mới giữa giai cấp tư sản đang lên và chế độ phong kiến đã lỗi thời.

          Thời kì này, học thuyết nhà nước pháp quyền được bổ sung, hoàn thiện, phát triển qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Đó là lý thuyết về pháp quyền tự nhiên của các nhà triết học Hà Lan thế kỷ XVI - XVII với các đại diện: B.Spinôda (1632-1677), H.Grôtius (1583-1645); lý thuyết về tự do của các nhà duy vật Anh thế kỷ XVII với các đại diện như: J.Lốccơ (1632-1704), T.Hốpben (1588-1679), J.S.Mill (1806-1873); lý thuyết về phân quyền, chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII với các đại diện: Môngtexkiơ - người đưa ra học thuyết phân quyền được các nước tư sản sau này áp dụng dưới các hình thức khác nhau, Rốtxô (1712-1788) - người đưa ra lý thuyết về chủ quyền nhân dân và "khế ước xã hội"; lý thuyết về pháp quyền của các nhà triết học cổ điển Đức với các đại diện như: I.Cantơ (1724-1804), Hêghen (1770-1831), ...

          "Mặc dù với những góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng các học thuyết này đều mang những nội dung cơ bản và chung nhất sau: Sự hiện diện của chủ nghĩa lập hiến và coi đó là bằng chứng hữu hình về sự đồng thuận của người dân; nhà nước phải tự đặt dưới pháp luật không hành động độc đoán; nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người và quyền công dân; quyền lực nhà nước được chia thành ba quyền: quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giao cho ba cơ quan nhà nước tương ứng theo nguyên tắc quyền lực giám sát kiềm chế quyền lực"[1]. Như vậy, đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền theo các học giả phương Tây là sự hiện diện của một chế độ dân chủ, trong đó nhà nước điều chỉnh các quan hệ quyền lực trong một hệ thống các chế định của nhà nước. Đồng thời với nhấn mạnh cơ chế chống lạm quyền, phải bảo đảm tính tối cao của hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thiết lập các cơ quan của mình trên cơ sở bầu cử dân chủ theo luật... Nhà nước pháp quyền tư sản hiện nay, xét về bản chất cũng chỉ là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản mà thôi.

          Học thuyết nhà nước pháp quyền không phải là tài sản riêng của các triết gia tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mặc dù không chính thức đề cập đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình nhưng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm đến nhà nước và cách mạng, nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói các ông ít nhiều đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền. Đó là những tư tưởng đầu tiên về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen được thể hiện trong các tác phẩm như: "Sự khốn cùng của triết học", "Phê phán triết học pháp quyền Hêghen", ... C.Mác chỉ ra cơ sở xã hội như nền tảng vật chất của pháp luật, xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở, đó chỉ là những ảo tưởng của những nhà triết học tư sản. Ngược lại, pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải do ý muốn tuỳ tiện của một cá nhân. Ông cho rằng trong chế độ dân chủ không phải con người tồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con người... “Thực tế, với việc trình bày luật pháp, quyền lực của luật pháp trong tương quan với sở hữu, sự phát triển, sự phát triển công, thương nghiệp với mỗi giai cấp, quan điểm của các ông là về tính giai cấp của pháp luật, pháp quyền nói riêng và nhà nước nói chung"[2]. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, trong đó tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người, là sự phát triển toàn diện của con người. Có thể nói, vì con người và giải phóng con người là mục tiêu của một nhà nước pháp quyền kiểu mới. Hai ông chủ trương xác lập một chế độ dân chủ triệt để, do nhân dân tự quy định. Trong xã hội mới sẽ tạo ra nhiều điều kiện để giải phóng cá nhân, rằng xã hội sẽ không giải phóng cho mình được nếu không giải phóng mỗi một cá nhân riêng biệt và xã hội đó phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật. Ph.Ăngghen viết: "đối với chúng ta... điều bất di bất dịch là quan hệ giữa người cầm quyền và người bị lãnh đạo phải được thiết lập trên sở pháp luật”[3].

    Tiếp thu và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đưa học thuyết về nhà nước ngày càng hoàn bị hơn. Trong tư tưởng về nhà nước và cách mạng, về xây dựng xã hội mới của V.I.Lênin cũng chứa nhiều yếu tố pháp quyền. V.I.Lênin hướng đến một xã hội dân chủ rộng rãi, giải phóng con người và phát triển toàn diện con người. Ông cho rằng nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cần phải có một tiêu chuẩn pháp quyền nào cả. Trong quá trình lãnh đạo, tổ chức xây dựng nhà nước Xô Viết, V.I.Lênin đã nhiều lần đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động, phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật để đấu tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưa pháp luật lên trên hết)... Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin dù không trực tiếp bàn về nhà nước pháp quyền, nhưng trong toàn bộ học thuyết vĩ đại ấy vẫn có những yếu tố pháp quyền, góp phần làm phong phú các tư tưởng về nhà nước pháp quyền và đặt nên nền móng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của nhà nước pháp quyền, sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, các nhà khoa học tuy còn những ý kiến khác nhau về vấn đề nhà nước pháp quyền và tổ chức xây dựng nhà nước pháp quyền, song họ đều có quan niệm thống nhất về bản chất của nó. Theo họ, bản chất của nhà nước pháp quyền được thể hiện ở một số dấu hiệu đặc trưng sau đây: phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải do pháp luật quy định. Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật (các đảng phái, tổ chức, tôn giáo… phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật). Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Nhà nước có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung).

Từ những dấu hiệu đó rút ra quan niệm: Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi của bất cứ tổ chức xã hội hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật.

Quan niệm về nhà nước pháp quyền đề cập chủ yếu đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy nhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật. Nhà nước pháp quyền chỉ là một hình thức tổ chức của quyền lực nhà nước, trong đó lấy pháp luật và coi pháp luật là công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng của mình đối với toàn bộ xã hội. Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Xét về bản chất, nhà nước pháp quyền trong xã hội có giai cấp vẫn là công cụ thống trị và áp bức giai cấp. Sự phát triển của xã hội nói chung, bắt buộc giai cấp thống trị phải có sự thay đổi hình thức cầm quyền. Nhà nước pháp quyền xuất hiện thay thế cho nhà nước độc tài, chuyên chế… là một bước tiến bộ trong xã hội có giai cấp. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội theo khuôn khổ của pháp luật và bản thân nhà nước, phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của nó cũng bị ràng buộc bởi pháp luật.

Phương tiện chủ yếu của nhà nước pháp quyền trong quản lý xã hội đó là pháp luật. Nhưng nhà nước pháp quyền không đồng nghĩa với mọi nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Trong lịch sử, nhiều nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật (pháp trị) như các nhà nước độc tài, nhà nước chuyên chế. Những nhà nước này không phải là nhà nước pháp quyền. Những nhà nước này vốn từ xã hội mà ra song ngày càng vượt ra ngoài xã hội, đứng trên xã hội, dùng pháp luật để thống trị xã hội và bản thân nó lại đứng ngoài pháp luật.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Trong khi đó, pháp luật bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc; do đó, sẽ không có mô hình chung, những tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền cho tất cả các nước khác nhau. Bản chất của mỗi nhà nước pháp quyền phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội, hệ thống quan điểm, mục đích, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của mỗi nước.

Trong lịch sử đã tồn tại hai loại hình nhà nước pháp quyền cơ bản. Đó là nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do có sự khác nhau về bản chất xã hội, nên hai loại nhà nước này khác nhau về chất. Sự khác nhau đó thể hiện ở chỗ:

Một là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và vận hành của nhà nước có sự khác nhau căn bản. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của quốc hội, chính phủ hoặc tổ chức ra quốc hội và chính phủ nhiệm kỳ mới. Trong khi đó, hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân đứng đầu nhà nước có quyền giải tán quốc hội hoặc chính phủ.

Hai là, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân, đó là những người giàu, là giai cấp tư sản.

Ba là, nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết “tam quyền phân lập” là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân; trong đó, có sự phân công, phối hợp, để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản còn có sự khác nhau về hệ thống pháp luật. Bên cạnh sự khác nhau về tính chất giai cấp, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ công nhận những quy phạm pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo một trình tự và thủ tục nhất định; trong khi đó, nhà nước pháp quyền tư sản thường coi “án lệ” hoặc “tập quán” như một loại quy phạm pháp luật bất thành văn.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tất yếu khách quan.

Trong công cuộc đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được xây dựng, tổ chức và vận hành theo thể chế Nhà nước pháp quyền. Đây là chủ trương, đường lối có tính chiến lược của Đảng, xuất phát từ yêu cầu tất yếu, khách quan của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước, bởi vì:

Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

Lịch sử xã hội cho thấy, sự phát triển của sản xuất vật chất là nhân tố xét đến cùng quyết định không chỉ sự vận động phát triển của xã hội từ thấp đến cao, mà còn quyết định đến cả bộ mặt; cơ cấu tổ chức của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Trên thực tế nhà nước pháp quyền tư sản đã không giải quyết được triệt để vấn đề dân chủ và bảo vệ quyền con người. Vì quyền lợi của giai cấp vô sản, của quần chúng nhân dân lao động tất yếu phải thay thế nhà nước pháp quyền tư sản bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này đã được chủ nghĩa Mác - Lênin luận giải một cách khoa học.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu của sự thay thế đó được xây dựng dần dần dựa vào kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống giai cấp tư sản. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của mình như: “Sự khốn cùng của triết học”; “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”… C.Mác, Ph.Ăngghen đã nêu ra những luận điểm về một nhà nước xã hội chủ nghĩa, nêu lên quy luật đấu tranh giai cấp trong lịch sử và tất yếu của việc giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền. Giai cấp vô sản không thể nào lật đổ được giai cấp tư sản, nếu trước hết không giành lấy chính quyền, không thiết lập được sự thống trị về chính trị của mình. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, vấn đề mới chỉ được đặt ra một cách chung nhất với những lập luận như: thay bộ máy nhà nước bằng việc “tổ chức giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị; “bằng việc giành lấy dân chủ”… Nhưng giai cấp vô sản thực hiện điều đó bằng cách nào; tổ chức chính quyền của giai cấp vô sản ra sao ... còn chưa được giải đáp một cách cụ thể.

Từ 1848 đến 1851 là thời kỳ xảy ra các cuộc cách mạng tư sản. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của các cuộc cách mạng tư sản, đặc biệt là cách mạng tư sản Pháp, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận cần phải đập tan bộ máy nhà nước tư sản trong quá trình làm cách mạng vô sản chứ không thể sử dụng nó phục vụ cho giai cấp vô sản được. Những tư tưởng trên được trình bày tập trung trong hai tác phẩm lớn: “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”; “Ngày 18 tháng Sương mù của LuiBônapáctơ”. Như vậy, đến đây vấn đề được đặt ra một cách cụ thể hơn, kết luận rút ra hết sức chính xác về mặt thực tiễn. Nhưng lấy cái gì để thay thế nhà nước của giai cấp tư sản đã bị đập tan đó? Câu hỏi đó vẫn chưa được trả lời. Theo V.I.Lênin, kinh nghiệm lịch sử lúc đó chưa cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen làm được điều đó.

Tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari, trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp” C.Mác đã trình bày quan điểm về vấn đề đó. Theo C.Mác, sau khi đập tan nhà nước của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản phải tổ chức ra nhà nước của mình. Đó là nhà nước kiểu công xã, một nhà nước mà quyền lực thật sự của nó thuộc về nhân dân. Nhà nước đó khác về chất so với các nhà nước của các giai cấp thống trị trước đây. Theo C.Mác, Công xã là một hình thức nhà nước đỡ tốn kém nhất trong lịch sử. Bởi vì, nó xóa bỏ quân đội thường trực bằng nhân dân tự vũ trang, hệ thống viên chức do bầu cử và có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào… Đánh giá về phát hiện đó, V.I.Lênin đã viết: “Công xã là hình thức mà cách mạng vô sản rốt cuộc đã tìm ra, hình thức khiến cho có thể giải phóng được lao động về phương diện kinh tế"[4]. Sự thay thế nhà nước cũ bằng nhà nước mới như vậy "là một sự thay thế vĩ đại: thay những cơ quan này bằng những cơ quan khác hẳn về nguyên tắc. Đó chính là một trong những trường hợp lượng biến thành chất"[5].

Phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản đã thành trực tiếp, V.I.Lênin đã có những đóng góp quan trọng vào học thuyết Mác về vấn đề nhà nước. Trong khi phê phán các quan điểm sai lầm của bọn cơ hội, bọn “Mensevích”, cũng như bọn vô chính phủ, V.I.Lênin đã tìm ra hình thức nhà nước phù hợp với nước Nga là Cộng hoà Xôviết và khẳng định, giai cấp vô sản phải dùng bạo lực cách mạng để thủ tiêu bộ máy bạo lực của giai cấp tư sản; xóa bỏ nhà nước tư sản, phải giành lấy dân chủ. Nhà nước Cộng hoà Xô viết phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân… Vì vậy, sự phát triển của cách mạng nước ta tất nhiên cũng không ngoài quy luật chung đó.

Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuất phát từ mục tiêu và thực tiễn của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác - con đường cách mạng vô sản”. Theo Người, cuộc cách mạng ở nước ta sau khi hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, phải tiếp tục tiến lên thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

 Cách mạng xã hội chủ nghĩa, về bản chất là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến hành, thực hiện xóa bỏ chế độ xã hội có áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội mới không có giai cấp áp bức và bóc lột, giải phóng xã hội và con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, bất bình đẳng. Thực tiễn cho thấy, một trong những tiền đề quan trọng đưa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công đó là quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân. 

Từ năm 1975, sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy, để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước toàn diện, nhất thiết phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nước ta đang phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì tất yếu nhà nước phải là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới. Có như vậy mới có thể hoàn thành vai trò là công cụ chính trị, công cụ quản lý kinh tế xã hội có hiệu lực và hiệu quả.

 Chính vì vậy, khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dần dần được nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc, được chính thức đưa vào các văn kiện của Đảng. Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được khẳng định trở thành một quan điểm chỉ đạo xây dựng Nhà nước ta và được đưa vào Hiến pháp.  “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”[6]. Trên cơ sở phương hướng đó, trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, đã thể hiện được sức mạnh của mình trong tổ chức quản lý xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do xã hội ta đi vào chủ nghĩa xã hội ở trình độ thấp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cũng tức là bỏ qua giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một nhiệm vụ hết sức mới mẻ khó khăn và phức tạp.

Ba là, xuất phát từ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tuy trong các văn kiện của Đảng ta trước đây chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng xét theo các đặc trưng, những giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền thì đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Đó chính là kết quả của việc vận dụng tư tưởng về nhà nước kiểu mới của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ, rõ ràng, cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn.

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, trong chủ trương đổi mới nhà nước, Đảng ta đã nhấn mạnh một số nội dung, đó là sự khẳng định “quản lý nhà nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý”[7]. “Phải quan tâm xây dựng pháp luật. Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật”[8]. Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”[9]. Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng có những bước tiến quan trọng.

Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta mới được chính thức khẳng định. Lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam, đó là: tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo.

Việc thể hiện trong văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, những quan điểm cơ bản về các nội dung chủ yếu của phạm trù Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã được xác lập, đặt cơ sở lý luận cho việc triển khai các chủ trương, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong những giai đoạn phát triển tiếp theo.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám (khoá VII) đã đánh dấu một bước quan trọng trong việc cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VII là hội nghị chuyên bàn về nhà nước “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”. Sau khi đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, yếu kém trong tổ chức, hoạt động của nhà nước ta và những yêu cầu trước tình hình mới, Hội nghị đã nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước cụ thể là: Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ba là, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bốn là, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa. Năm là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Đại hội XIII (tháng 01/2021) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khẳng định “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Báo cáo chính trị đã xã định một trong những phương hướng quan trọng của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”[10].

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu (khóa XIII), Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cao việc ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới". Trong đó chỉ rõ tình hình, quan điểm, các mục tiêu, trọng tâm và nhóm nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Như vậy, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng với yêu cầu đang đặt ra của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế là một nhân tố mang ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng bảo đảm thực sự trong sạch, vững mạnh, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phải chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân; đồng thời, có cơ chế để người dân thực hiện tốt nhất trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Cần có cơ chế phù hợp giữa nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có cơ chế phù hợp bảo đảm mở rộng dân chủ, đồng thời, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển đất nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ chung của mọi lực lượng xã hội. Quân đội nhân dân Việt Nam với tư cách là một bộ phận không tách rời của nhà nước, cần phải quán triệt những vấn đề có tính nguyên tắc chung đó để tự hoàn thiện mình, tự nâng cao trách nhiệm của mình trong thực hiện các nhiệm vụ do cách mạng giao phó. Mặt khác, với tính cách là một lực lượng tiên tiến của xã hội, cần tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay./.



[1] Đào Trí Úc, Mô hình tổ chức và họat động của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr.142.

[2] Lê Tuấn Huy, Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp TpHCM, HCM. 2006, tr.161, 162.

[3] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nhà nước và pháp luật, Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật, Tập II, Nxb. Lí luận chính trị, tr.118,119.

[4] V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1976, t. 33,  tr. 69.

[5] V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1976, t. 33,  tr. 52.

[6] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nxb CTQG, H. 2014, tr. 8-9.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.120-121

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H.1991, tr.20.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H.1991, tr.20.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. CTQG-ST, Hà Nội, 2021, tr.174-175.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét