Nhận diện
đúng về tham nhũng, tiêu cực để đấu tranh phòng chống có hiệu quả
Chúng ta đều biết, tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu)
là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào
cũng có; đó là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực. Các quốc gia tồn
tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống
tham nhũng có hiệu quả.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng
năm 2003: "Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực của nhà
nước để trục lợi riêng". Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
của Việt Nam đã xác định: "Tham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi".
Như vậy, về bản chất, nói một cách nôm na, dễ hiểu như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dạy thì tham nhũng là hành vi "ăn cắp của công làm của
tư".
So với "tham nhũng" thì
"tiêu cực" có nghĩa rộng hơn, do đó, phải xác định
phạm vi của tiêu cực mà chúng ta cần tập trung phòng, chống là những hành vi có
liên quan đến tham nhũng; đó là sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng là một loại hành vi tiêu
cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và tiêu cực, nhất là
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ gắn bó mật
thiết, chặt chẽ với nhau; nguyên nhân cơ bản, trực tiếp của tham nhũng là do
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tiêu cực là môi trường làm
nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng
tiêu cực.
Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng về tiền bạc, tài
sản thôi thì chưa đủ, mà nguy hại hơn là sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc của tham nhũng; không suy thoái, hư hỏng
thì làm gì dẫn đến tham nhũng? Tiền bạc, tài sản có thể còn thu hồi được, nhưng
nếu suy thoái về đạo đức, tư tưởng là mất tất cả. Vì vậy, phòng, chống tiêu
cực, mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của
tham nhũng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng
ta đã sớm nhận thức và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ
tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước. Ngay
từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân và Chính phủ là
"giặc ở trong lòng", "giặc nội xâm".
Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như
khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, dù phải tập trung cao độ cho việc thực
hiện các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng nhưng Đảng và Nhà
nước ta vẫn không sao nhãng công tác đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng, tiêu
cực.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước tình trạng tham
nhũng, tiêu cực ngày càng bộc lộ rõ nét, diễn biến phức tạp, Đảng ta đã nhiều
lần chỉ rõ: Tham nhũng "làm giảm lòng tin của quần
chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước"
(Đại hội 6); "đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước"
(Đại hội 11); "là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò
lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước" (Đại hội
12).
Đặc biệt, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội 7
(tháng 1/1994), tham nhũng được Đảng ta nhận diện là một trong bốn nguy cơ đối
với Đảng và cách mạng Việt Nam, đến Đại hội 9 đã trở thành "một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta"
và đến nay "vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn
vong của Đảng và chế độ" (Đại hội 13).
Điều đó cho thấy chúng ta chưa bao giờ chủ quan;
trái lại, luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tệ tham nhũng ở
mức độ cao nhất.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét