Một trong những bài học
kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là: “Trong mọi công việc của
Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”;
thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì
thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách
phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân và thắt chặt mối
quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng;
tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phấn đấu cho
mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ có như vậy,
mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước và chế độ ta.
Tư tưởng “dân là gốc” là
tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường
cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng
định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta.
Nhân dân được xác định là trung tâm, là chủ thể của công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa
vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang này và điều đó cũng chính là
thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân
dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội), xét về
bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ
thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát
việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một
quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc,
từng nơi, từng con người cụ thể.
Giám sát và phản biện xã
hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện
vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một
cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc
đẩy quá trình dân chủ.
Từ khi trở thành chính
đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm
quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi dân chủ là bản chất
của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ trương và trong hoạt
động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực
hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng giám sát và phản biện
của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá
trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa
thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay,
nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện
trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc
phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.
Đại hội X của Đảng lần đầu
tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động
của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là
nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà
nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá
khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn bản quy định của
Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã
hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội
đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới các hình thức đối
với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các
chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự án... của các
ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông,
báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính thức, phi chính thức,
trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ
tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính quần chúng, tính
xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Hiến pháp và luật pháp của
Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình
đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của
công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và
tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số
217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban
hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã
hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn
bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, với
quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhằm
khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân, để từng bước hình
thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Thực tiễn cho thấy, hoạt
động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ
thể là:
- Góp phần nâng cao chất
lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng
kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.
- Tăng cường trách nhiệm
của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân;
giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
- Tăng cường tính năng
động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội
ngũ cán bộ, đảng viên.
- Góp phần kiểm soát các
xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở thành xung đột xã hội,
giữ vững ổn định chính trị.
Trên con đường phát huy
dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các yếu tố
của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước
đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân dân hưởng ứng và có
tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với
nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị.
Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là quá trình không ngừng
dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến
mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi hiệu quả của hoạt động
giám sát, phản biện xã hội.
Tuy nhiên, hiệu quả của
giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:
- Phạm vi hoạt động giám
sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế
dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa
được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân,
chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.
- Không ít hoạt động giám
sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, còn mang tính
hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang tính phản ánh tình
hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu
của giám sát, phản biện xã hội.
- Hoạt động giám sát, phản
biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những chủ thể có liên quan,
còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.
Nhìn chung, hiệu quả của
giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo được niềm tin của
nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm chủ thực sự của
người dân còn có những hạn chế nhất định.
Nguyên nhân của thực trạng
đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Về khách
quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một nền dân chủ tuy
ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng
gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu nông, dễ an phận,
ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan, việc thể chế
hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể,
thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là
thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản
pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được việc
thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm
lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám sát,
phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên
trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của
từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ
quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập
là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó
chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội
chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.
HAIVAN
bài viết rất thực tế
Trả lờiXóa