_Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Kiền, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh 83, Quân chủng Hải quân, nguyên trợ lý Phòng Công binh Hải quân_
GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Quân chủng Hải quân và Quân khu V phối hợp giải phóng quần đảo Trường Sa. Bộ tư lệnh Hải quân đã khẩn trương chuẩn bị lực lượng thực hiện nhiệm vụ. Quyết tâm của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh là bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta.
Lực lượng gồm 3 tàu vận tải của Đoàn 125 chở 1 đại đội của Trung đoàn 126 đặc công Hải quân, 1 phân đội hoả lực của đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 471/Quân khu 5 xuất phát từ quân cảng Đà Nẵng đi giải phóng quần đảo Trường Sa. Đến 5 giờ 15 phút ngày 14 tháng 4 năm 1975, ta làm chủ hoàn toàn đảo Song Tử Tây, thu toàn bộ vũ khí trang bị của địch. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên đỉnh cột cờ trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa.
Đêm 24 tháng 4, tàu 673 chở Ban chỉ huy chiến đấu và phân đội 3 Đoàn 126 tiến vào gần đảo Sơn Ca. Trận chiến đấu diễn ra nhanh chóng, lá cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi sao vàng 5 cánh được kéo lên cột cờ trên đảo Sơn Ca.
Từ thông tin của Đại đội 7 trinh sát / Bộ Tham mưu báo cáo, khi biết tin bị mất đảo Sơn Ca, bọn quân nguỵ trên các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa hoang mang tột độ, sau đó chúng rút ra tàu bảo vệ chạy khỏi đảo. Chớp thời cơ, Bộ Tư lệnh Hải quân tiền phương lập tức chỉ thị cho Đoàn trưởng Mai Năng đang trên tàu 673 ở Song Tử Tây: " Khẩn trương cho lực lượng đến các đảo còn lại, quyết không để một lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội để chiếm đảo". Vào lúc 1 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, tàu 673 nhổ neo rời Song Tử Tây tiến về Nam Yết, một bộ phận của Phân đội 3 đổ bộ lên chiếm giữ đảo. Không một tiếng súng nổ do quân địch đã rút chạy hết. Lá cờ của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phấp phới tung bay trên đảo Nam Yết.
Vào 10 giờ 30 phút ngày 28/4 ta giải phóng, kéo cờ trên đảo Sinh Tồn. Một bộ phận 18 cán bộ chiến sĩ ở lại chốt giữ đảo Sinh Tồn, tàu 673 khẩn trương chở lực lượng đến giải phóng đảo Trường Sa. Lúc 9 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, phân đội chiến đấu của Trung đoàn 126 đã hoàn thành đổ bộ lên đảo Trường Sa. Cờ giải phóng tung bay trên hòn đảo lớn nhất, hòn đảo thứ 5 và cũng là hòn đảo cuối cùng mà quân nguỵ Sài Gòn đóng giữ ở quần đảo Trường Sa.
Quân chủng Hài quân cùng lực lượng phối thuộc của Quân khu 5 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Còn 4 đảo nổi gồm nhỏ: Trường Sa Đông, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh, An Bang chưa ai đóng giữ.
Tháng 3 năm 1977 Thiếu tướng Giáp Văn Cương - Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam được điều về làm Tư lệnh Hải Quân. Bộ tư lệnh Hải quân đã báo cáo lên Bộ Quốc phòng, đến năm 1978 Hải quân Việt Nam đóng giữ hết cả 4 đảo nổi còn lại, nâng tổng số lên 9 đảo nổi.
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH PHÒNG THỦ ĐẢO NỔI KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC ĐẢO CHÌM
Trên 9 đảo nổi, ta tiến hành xây dựng công trình phòng thủ bảo vệ đảo theo kế hoạch Z76, từ năm 1976 đến năm 1984 hoàn thành. Đồng thời Bộ tư lệnh Hải quân đã tổ chức khảo sát phát hiện ra gần 100 bãi đá ngầm ta gọi là đảo chìm. Vùng 4 tổ chức thả bia khảng định chủ quyền trên các đảo chìm. Từ năm 1976 đến năm 1984, Lữ đoàn 146, Trung đoàn công binh 83 cùng Phòng tham mưu, Ban công binh Vùng 4 đã phối hợp tổ chức thả gần 100 bia chủ quyền trên các bãi đá ngầm ( đảo chìm) để khảng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trưởng Sa.
Hàng năm Bộ tư lệnh Hải quân đều tổ chức các đoàn công tác đi kiểm tra quần đảo Trường Sa, kiểm tra bia chủ quyền trên các đảo chìm.
Từ năm 1976 bắt đầu đến năm 1984 hoàn thành toàn bộ kế hoạch Z76, bao gồm hệ thống công trình chiến đấu trên 9 đảo nổi và đặt bia chủ quyền trên gần 100 bãi đá ngầm ( đảo chìm ) trên quần đảo Trường Sa. Trung đoàn Công binh 83 hoàn thành nhiệm vụ, rút khỏi Trường Sa.
ĐÓNG GIỮ ĐẢO CHÌM THUYỀN CHÀI
Tháng 4/1986, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương dẫn đầu đoàn cán bộ Hải quân, có các cơ quan Bộ Quốc phòng tham gia đi kiểm tra, chỉ đạo các mặt trên toàn bộ quần đảo Trường Sa, chúng tôi: Đại uý - Kỹ sư Hoàng Kiền và Đại uý - Kỹ sư Đỗ Văn Thông cùng là trợ lý phòng Công binh tham gia đoàn.
Đến đảo chìm Thuyền Chài, Tư lệnh cho tàu neo lại, nửa đêm giữa trăng sáng vằng vặc bỗng nổi lên mặt biển một hòn đảo dài mấy chục cây số. Sáng hôm sau Tư lệnh giao cho tổ bảy người thả xuồng vào kiểm tra mốc chủ quyền và phát hiện nước ngoài đã thả trộm bia chủ quyền trên đảo này. Tư lệnh nói: Sẽ có tranh chấp đảo chìm xảy ra và chỉ đạo các biện pháp chuẩn bị đối phó.
Tháng 2/1987, nhà C3 đầu tiên được lắp dựng trên đảo chìm Thuyền Chài. Kết cấu cột bê tông cốt thép, tận dụng cột điện gỗ thông ở Cam Ranh của Mỹ cắt ra làm cột chống xiên, kết cấu dầm gỗ xẻ, lát ghi nhôm, lợp vòm tôn. Phân đội công binh Vùng 4 do thượng uý Đào Chí Tiến là Đại đội trưởng ra triển khai, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của thủ trưởng Vùng 4, Lữ đoàn 146.
NHÀ C3 TRÊN ĐẢO CHÌM TRƯỜNG SA
Ngày 3/9/1987, Quốc hội Trung Quốc thông qua quy chế đưa đảo Hải Nam thành tỉnh và sát nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào Hải Nam, sau đó họ liên tục cho tàu chiến giả dạng tàu dân sự để khảo sát, trinh sát thăm dò quần đảo Trường Sa của ta nhằm âm mưu xâm chiếm các đảo chìm.
Trước tình hình đó Bộ Tư lệnh Hải quân đã nghiên cứu phương án đóng giữ các đảo chìm. Đã kéo 2 poong tông có nhà phủ bạt trên boong đưa ra Đá Đông và Đá Nam, nhưng do sóng gió lớn poong tông Đá Nam bị đứt neo trôi không chịu được đành kéo về Đá Đông. Chuyển sang phương án đưa các tàu vận tải ra canh giữ, làm các nhà cao chân C3 để chốt giữ các đảo chìm và đưa tàu đổ bộ LCU ra chốt giữ.
Với lực lượng tàu vận tải của Lữ đoàn 125 và Vùng 4 Hải quân, Trung đoàn Công binh 83, Lữ đoàn giữ đảo 146, Tiểu đoàn Công binh V4, chúng ta quyết tâm tổ chức đóng giữ các đảo chìm chủ yếu là lắp dựng nhà C3.
Ngày 14 tháng 3 năm 1988, phân đội của Trung đoàn công binh 83 cùng phân đội của Lữ đoàn 146, tổ đo đạc của Đoàn 6 ra lắp dựng nhà C3 chốt giữ đảo chim Gạc Ma. Bị đối phương dùng vũ lực bắn chìm tàu vận tải HQ 604 ở đảo Gạc Ma và tàu vận tải HQ 605 ở đảo Len đao, bắn cháy tàu đổ bộ HQ 505 ở đảo Co Lin, sát hại 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, chiếm đảo Gạc Ma của ta. Trước tình hình ấy, với quyết tâm cao, biện pháp cụ thể, chúng ta tiếp tục lắp dựng bổ sung các nhà C3 trên các đảo chìm để chốt giữ khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Lực lượng Công binh Hải quân bao gồm: Phòng Công binh, Ban Công binh Vùng 4, Lữ đoàn CB 83, Lữ đoàn CB 131, 2 Tiểu đoàn CB Vùng 4 phối hợp với Lữ đoàn 146 / Vùng 4, Đoàn 6 / Bộ tham mưu Hải quân đã khẩn trương lắp dựng các nhà C3 trên đảo chìm thuộc quần đảo Trường Sa.
Như vậy đến ngày 27/4/1988 ta đã lắp dựng được tổng số 18 nhà C3 trên 12 bãi đá ( đảo chìm ) và bãi cạn đảo nổi Phan Vinh.
Trong đó nhà C3 lắp dựng đầu tiên trên đảo chìm Thuyền Chài năm 1987, 17 nhà nhà C3 lắp dựng trong năm 1988. Cụ thể:
Trung đoàn 83 lắp dựng 12 nhà
Trung đoàn 131 lắp dựng 2 nhà
Tiểu đoàn 1 Công binh Vùng 4 lắp dựng 4 nhà.
Nhà C3 là công trình dã chiến, lắp dựng nhanh hoàn toàn thủ công, bí mật để chốt giữ các đảo chìm. Thật tự hào, lực lượng Công binh nói chung, Công binh Hải quân nói riêng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng các công trình bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trong đó với sự sáng tạo, mưu trí dũng cảm trong thiết kế, gia công, vận chuyển, lắp dựng 14 nhà C3 trên các đảo chìm ngập nước giữa Trường Sa mùa sóng gió, đã góp phần quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc chốt giữ 12 đảo chìm ở thời điểm lịch sử đó trước mũi súng quân địch.
Nhà C3 là công trình dã chiến nhưng có giá trị và ý nghĩa về mặt chiến lược đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc ở Trường Sa.
SẢN XUẤT NHÀ SẮT C2
Các nhà dã chiến C3 do Tư lệnh Giáp Văn Cương giao cho Công binh xây dựng với yêu cầu chốt giữ đảo thật khẩn trương, tồn tại được trong 6 tháng. Tiếp theo có các công trình khác được xây dựng bổ sung.
Qua nghiên cứu thực tế, đề xuất, thống nhất với Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Công binh dưới sự chỉ đạo của Thiếu tướng Vũ Trọng Hà - Tư lệnh Binh chủng, triển khai thiết kế nhà sắt C2 ngay. Phòng Công trình Quốc phòng do Kỹ sư Phạm Tiến Nhượng làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, sau đó kỹ sư Nguyễn Hữu Lập đảm nhiệm. Nhà bằng kết cấu thép 2 tầng, tầng 1 có 16 téc chứa nước ngọt và kho, tầng 2 là nơi ở cho khoảng 1 trung đội giữ đảo, thời gian tồn tại 2 năm. Phương án được Bộ tư lệnh Hải quân hoan nghênh.
Nhà máy X49 khẩn trương sản xuất vận chuyển vào Cam Ranh bàn giao cho Hải quân 10 bộ nhà sắt C2, Đại tá Nguyễn Quí - Cục trưởng Cục Kỹ thuật Công binh chỉ đạo nhà máy Z49 triển khai. Thiếu tướng Vũ Trọng Hà trực tiếp vào Cam Ranh chỉ đạo Phòng Công trình và Nhà máy 49/ Bộ Tư lệnh Công binh hướng dẫn. Phân đội của Lữ đoàn Công binh 229/ Bộ Tư lệnh Công binh lắp dựng thử trên bờ tại Cam Ranh, với trình độ kỹ thuật và tính kỷ luật rất cao.
Các tàu vận tải của Vùng 4, Lữ đoàn 125 vận chuyển, các đơn vị công binh của quân chủng Hải quân, được tăng cường thêm lực lượng của Bộ Tư lệnh Công binh triển khai xây dựng ngoài đảo, Lữ đoàn 146 tiếp nhận để tăng cường thêm lực lượng bảo vệ chủ quyền.
QUYẾT TÂM LẮP DỰNG NHÀ SẮT Ở CÔ LIN VÀ LEN ĐAO
Ngày 16/6/1988 Bộ tư lệnh Hải quân họp và quyết định xây dựng nhà sắt C2 trên các đảo chìm, trọng tâm là Cô Lin và Len Đao. Nhà sắt đã được Bộ tư lệnh Công Binh thiết kế và chế tạo cấu kiện bàn giao cho Hải quân tại Cam Ranh.
Trung đoàn 83 tổ chức 2 khung, mỗi khung 30 người. Thiếu tá Trần Đình Dần, Trung đoàn Phó - Tham mưu trưởng chỉ huy chung. Khung xây dựng đảo Cô Lin do đồng chí Cù Kim Tài - Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 886 làm khung trưởng, đồng chí Nguyễn Bá Chiến - Đại đội trưởng Đại đội 6 làm khung phó. Khung xây dựng đảo Len Đao do đồng chí Nguyễn Văn Tuấn - Đại đội trưởng Đại đội 7 làm khung trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Cần - Phó Đại đội trưởng làm khung phó. Đại uý Nguyễn Văn Thống - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 887 cùng ra chỉ huy.
Quá trình chuẩn bị, thường xuyên được các đồng chí Phạm Huấn - Phó Tư lệnh phụ trách Lục quân, đồng chí Lê Văn Xuân - Phó Tư lệnh về chính trị đến thăm, kiểm tra, động viên. Trước khi lên đường, Tư lệnh Giáp Văn Cương đến giao nhiệm vụ cho Chỉ huy Trung đoàn, trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Đình Dần và nói : Chuyến này các đồng chí đi là rất nguy hiểm, có thể hy sinh, nhưng nhất định phải ra xây dựng nhà chốt giữ đảo.
Việc xây dựng nhà C2 trên đảo được tiến hành từng bước rất thận trọng. Vào 1 giờ ngày 21 tháng 6 năm 1988 con tàu HQ613 chở hai khung xây dựng rời quân cảng Cam Ranh hướng ra Trường Sa, tàu cập đảo Sinh Tồn trước rồi chuyển vật liệu lên tàu nhỏ .
Tàu LCU HQ 554 từ đảo Len Đao về đảo Sinh Tồn nhận hàng từ tàu HQ 613 chuyển sang.
Tàu HQ613 từ đảo Sinh Tồn đi sang đảo Cô Lin. Sau khi giao nhiệm vụ cho khung xây dựng đảo Cô Lin xong , Thiếu tá Trần Đình Dần - Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng và Đại uý Nguyễn Văn Thống - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 cùng đi tàu HQ554 ra chỉ huy xây dựng công trình trên đảo Len Đao, và dùng xuồng máy kiểm tra chỉ huy cả hai khung xây dựng trên 2 đảo.
Vào 18 giờ ngày 29 tháng 6 năm 1988, nhận lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, đơn vị tổ chức cắm cờ trên hai đảo và bắt đầu xây dựng. Hồi 11 giờ ngày 1/7/1988 tàu chiến Trung Quốc từ đảo Gạc Ma sang khiêu khích. Cán bộ chiến sĩ của ta vẫn bình tĩnh thực hiện đối sách, dùng loa phát đi lời khẳng định đây là chủ quyền của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc không được xâm phạm. Theo phương án hiệp đồng tác chiến, tốp 3 máy bay Su 22 của Không quân nhân dân Việt Nam bay ra lượn hai vòng uy hiếp, tàu chiến của đối phương phải rút lui.
Ngày 9/7/1998 nhà C2 trên đảo Len Đao hoàn thành, ngày 10/7/1988 nhà C2 trên đảo Cô Lin hoàn thành.
Hai công trình nhà sắt C2 cao 2 tầng được xây dựng trên đảo chìm Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa trước sự uy hiếp đe doạ của tàu chiến đối phương, thể hiện quyết tâm, ý chí, bản lĩnh rất cao từ Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Hải quân đến Trung đoàn Công binh 83 và cán bộ chiến sĩ trực tiếp thi công. Lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc các công trình khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nơi đây. Thật vui mừng phấn khởi và tự hào.
Sau khi hoàn thành xây dựng hai công trình, bàn giao nhà cho hai phân đội của Lữ đoàn 146 giữ đảo, toàn bộ lực lượng thi công của Trung đoàn quay về tàu HQ 613 ở đảo Sinh Tồn trở về đất liền an toàn.
Tổng số Bộ tư lệnh Công binh đã sản xuất giao cho Bộ tư lệnh Hải quân 10 bộ nhà sắt C2. Đã sử dụng 9 nhà lắp dựng.
LẮP DỰNG NHÀ SẮT C2 - ĐIỂM ĐÓNG QUÂN THỨ 33 TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Năm 1990 Trung đoàn Công binh 83 được giao nhiệm vụ:
- Thi công phá đá hoàn thành mở luồng vào hồ Đá Lớn
- Xây dựng nhà sắt C2 bên cạnh bờ phải luồng Đá Lớn khi thông luồng.
Thiếu tá Hoàng Kiền - Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn Công binh 83 ra trực tiếp chỉ huy lực lượng thi công ngoài đảo.
Sau khi nổ lượng nổ lớn nhất 110 tấn thành công, luồng vào hồ Đá Lớn dài 750 mét, rộng 50 mét, sâu 5 mét do Viện kỹ thuật Công binh thiết kế, Tiến sĩ Lê Văn Trung làm Chủ nhiệm đồ án, Trung đoàn Công binh 83 thi công đã cơ bản hoàn thành. Nhà sắt C2 được triển khai lắp dựng bên cạnh bờ phải cửa luồng ngay. Thiếu tá Hoàng Kiền - Phó tham mưu trưởng chỉ huy chung, Thượng uý Dương Chóng - Đại đội trưởng Đại đội 5 trực tiếp chỉ huy đơn vị thi công, Thiếu uý Hoàng Bá Định - Trung đội trưởng cùng tham gia , Trung uý - Kỹ sư Võ Hồng Khanh - Trợ lý Ban Tham mưu phụ trách kỹ thuật, Đại uý Phạm Như Mứt - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đôn đốc thi công.
Trong quá trình thi công đêm mùng 3 tháng 5 năm 1990 gặp cơn bão số 1 nổi lên ngay ở Trường Sa nơi chúng tôi đang thi công, vô cùng nguy hiểm, lo lắng trôi mất hết 16 téc nước và một số vật liệu đã tập kết lên bãi đá bên bờ luồng. Sáng sớm hôm sau Tôi trực tiếp đi xuồng máy chỉ huy một tổ ra cứu được hết các téc sắt khi bắt đầu trôi.
Nhà C2 tại cửa luồng Đá Lớn được xây dựng, ngày 14 tháng 5 năm 1990 hoàn thành, đây là ĐIỂM ĐÓNG QUÂN THỨ 33 Ở TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM.
Trong cuốn sách Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955 - 2015) ghi: đến năm 1988 ta đã đóng giữ 21 đảo, đá với 32 điểm đóng quân.
Hiện nay ta đang tuyên truyền và thực tế hiện quản lý là 21 đảo, đá với 33 điểm đóng quân. Điểm đóng quân thứ 33 là nhà sắt C2 tại bên phải luồng Đá Lớn do Trung đoàn Công binh 83 thi công tại đảo Thiếu tá Hoàng Kiền chỉ huy, hoàn thành ngày 14 tháng 5 năm 1990 bàn giao cho lực lượng đảo Đá Lớn quản lý bảo vệ đảo. Ôn lại kỷ niệm xưa, thật vui mừng, xúc động và tự hào.
CÁC NHÀ C2 ĐÃ XÂY DƯNG
Tổng số có 10 bộ nhà sắt C2 do Bộ tư lệnh Công binh thiết kế chế tạo giao cho Bộ tư lệnh Hải quân tiếp nhận tại Cam Ranh. Đã tổ chức lắp dựng trên các đảo chìm ở Trường Sa 9 bộ, các đơn vị Cồm binh Hải quân lắp dựng 7 bộ trên 7 đảo, Lữ đoàn Công binh 229 thuộc Bộ tư lệnh Công Bình lắp dựng 2 nhà trên 2 đảo. Nhà C2 kết cấu hai tầng, có diện tích lớn hơn nhà C3, tầng một có 16 téc nước mỗi téc 2 M3, có kho hậu cần kĩ thuật. Tầng hai là nhà ở, bảo đảm cho một trung đội giữ đảo, sẵn sàng chiến đấu. Thời gian sử dụng được hai năm trở lên, bảo đảm an toàn trước bão gió. Nhà C2 đã góp phần quan trọng tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa.
XÂY DỰNG Nhà C1 NHỮNG PHÁO ĐÀI VỮNG CHẮC TRÊN BIỂN ĐÔNG
Để tăng cường thế trận phòng thủ, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định xây dựng các Nhà C1 trên các đảo chìm ngay trong năm 1987. Nhà C1 đầu tiên đã xây dựng năm 1987 tại Thuyền Chài, được bổ sung thêm cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và vững chắc hơn. Kết cấu vừa là công trình chiến đấu vừa kết hợp kho vũ khí, hậu cần, vừa là nhà ở cho bộ đội. Có hầm chứa nước ngọt vững chắc, có hầm chống được bom đạn của địch để bảo toàn lực lượng, có công sự chiến đấu vững chắc, công sự bảo đảm, các công trình sinh hoạt đồng bộ. Các kỹ sư phòng Công binh Hải quân và Ban Công binh Vùng 4 được huy động tối đa ra đảo hướng dẫn kỹ thuật xây dựng công trình.
Theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Hải quân, theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, từ tháng 6/ 1988 , các tình Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Quảng Ninh, Bình Trị Thiên, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, mỗi địa phương đảm nhiệm làm 1 nhà C1 ở đảo. Tháng 8 năm 1988 các tỉnh Bình - Trị - Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình hoàn thành công trình năm 1988, Hải Phòng, Phú Khánh sang năm 1989 mới hoàn thành, do triển khai chậm nên khó khăn.
Để xây dựng các nhà C1, mỗi nhà cần khoảng 2.000 đến 3.000 tấn vật liệu, kinh phí của địa phương, tàu vận tải của Hải quân và huy động thêm của các địa phương, mỗi công trình có 100 công nhân của địa phương ra xây dựng, Phòng Công binh Hải quân, Ban Công bịnh Vùng 4 cử kỹ sư ra hướng dẫn thiết kế, chỉ đạo thi công. Có một số địa phương khó khăn, lực lượng công binh Hải quân hỗ trợ và xây dựng.
Năm 1988 ở Đá Lớn xây 2 nhà c1 gồm 1 ở điểm A cũ giờ là điểm C, 1 ở điểm B do Nghĩa Bình xây dựng (thực ra Nghĩa Bình chỉ làm công tác vận chuyển còn xây dựng là lực lượng của e83) .
Có 5 tỉnh thành tham gia xây dựng nhà C1 gồm: Quảng Nam - Đà Nẵng ở Tốc Tan, Nghĩa Bình ở Đá Lớn, Bình Trị Thiên ở Đá Nam, Hải Phòng ở Đá Đông (1989) và Phú khánh ở Thuyền Chài (1989). Năm 1988 mới hoàn thành 3 nhà, trong đó nhà C1 do Bình - Trị - Thiên giúp xây dựng ở đảo Đá Nam hoàn thành tháng 8 đến tháng 10 có sự cố, Trung đoàn 83 đưa lực lượng ra khắc phục trong mùa mưa bão vô cùng khó khăn nguy hiểm. Hải Phòng làm nhà Đá Đông, Phú Khánh làm nhà Thuyền Chài, triển khai từ năm 1988 sang năm 1989 mới thi công và hoàn thành. Hết "mùa" xây dựng, Hải Phòng vẫn không tổ chức được lực lượng ra Trường Sa. Bắt buộc phải hoãn sang năm 1989.
Tháng 5/1989 Hải Phòng vẫn không điều được tàu. Sau đó đã phải thuê tàu Sông Côn của Nghĩa Bình để đưa vật tư và đội thi công của Công ty Xây lắp Hải Phòng ra Trường Sa làm nhiệm vụ....Khi thi công xong, tàu Hải quân đưa đoàn vào đất liền.
Nhà C1 do Nghĩa Bình xây dựng, nhưng chỉ cung cấp vật liệu và vận chuyển ra đảo, Trung đoàn 83 xây dựng.
Lực lượng Công binh Hải quân tập trung xây dựng các nhà C1 trên các đảo chìm mới đóng giữ, với kế hoạch mỗi đảo có từ 1- 3 nhà. Hai Trung đoàn 131 và 83 tập trung lực lượng thi công. Trong 6 tỉnh được giao làm nhà C1 có 3 tỉnh hoàn thành, có Bình - Trị - Thiên, Nghĩa Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng hoàn thành trong năm 1988,
Khối lượng vận chuyển ra đảo rất lớn, với hơn 40.000 tấn. Quân chủng Hải quân đã huy động lực lượng tàu vận tải của Hải quân gồm Lữ đoàn 125 trực thuộc Quân chủng, Lữ đoàn 955 thuộc vùng 4, Lữ đoàn 649 của Tổng cục Hậu cần phối hợp. Nhà nước điều các tàu vận tải Sông Thao, Hạ Long 01, Bạch Đằng 18 cho Hải quân. Liên Xô viện trợ cho Hải quân 1 tàu kéo 3000 CV, 1 tàu nước 1300 CV. Huy động 6 pông tông của Bộ Giao thông Vận tải. Nhà nước cấp vật tư để đóng 10 pông tông mới. Chính phủ giao cho Bộ Tư lệnh Hải quân ký hợp đồng với các nhà máy đóng tàu vận tải 1.000 tấn, 980 CV biên chế cho Lữ đoàn 125, bắt đầu triển khai đóng tàu Trường Sa. Với lực lượng vận tải được huy động cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vận chuyển xây dựng và bảo vệ Trường Sa.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa Lực lượng Công binh gồm Phòng Công binh Hải quân , Ban Công binh Vùng 4, Trung đoàn Công binh 83, Trung đoàn Công binh 131, 2 tiểu đoàn Công binh Vùng 4 và một số nhân lực của các địa phương, lực lượng vận tải, trong và ngoài Quân đội, Vùng 4 Hải quân, Dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Tư lệnh Hải quân, trong năm 1988 đã xây dựng được 8 nhà C1, kể cả nhà C 1 xây dựng trên đảo chìm Thuyền Chài năm 1988 là 9 nhà.
Với các nhà C1 được xây dựng, thế trận phòng thủ các đảo chìm đã được nâng lên một bước quan trọng. Sau đó chúng ta tiếp tục thi công các nhà C1, nâng tổng số 35 nhà trên 12 đảo chìm và bãi cạn đảo Phan Vinh. Đảo nhỏ có 1 điểm đóng quân, đảo vừa 2 điểm, đảo lớn 3 điểm. Mỗi điểm có một cụm công trình nhà c1 và một số công trình khác. Các nhà C1 được xây dựng mới kết hợp Hợp cải tạo nâng cấp các công trình xây trước, tạo nên những pháo đài vững chắc sừng sững trên biển Đông, kiến trúc đẹp, để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trên quần đảo Trường Sa.
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÓN TÀU RA TRỰC CHIẾN
Trên quần đảo Trường Sa, một số đảo chìm có hồ khá rộng và sâu, có hồ hở, có hồ kín. Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đã ra nghiên cứu và chỉ đạo việc phá đá cải tạo luồng, mở luồng và cải tạo lòng hồ để đưa tàu chiến ra trực chiến, nhằm giảm sự uy hiếp, khiêu khích liên tục của các tàu chiến của Hải quân Trung Quốc.
CẢI TẠO LUỒNG VÀ HỒ ĐÁ ĐÔNG
Cuối năm 1988 Trung đoàn 83 tổ chức khung đi cải tạo luồng, và hồ Đá Đông. Trung tá Trần Đình Dần - Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng trực tiếp ra chỉ huy thi công. Tàu chở vật liệu nổ và lực lượng ra triển khai nhiệm vụ.
Kết quả đã cảo tạo mở rộng luồng với chiều dài 70 mét, chiều rộng 50 mét, dọn sạch đá mồ côi trong lòng hồ.
MỞ LUỒNG VÀO HỒ ĐÁ LỚN
Đá lớn là một đảo chìm nằm ở khu vực giữa thuộc cụm đảo Sinh Tồn. Chiều dài đảo là 15 km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 3 km. Ở đầu phía Nam đảo có một hồ nước sâu, chiều dài hồ khoảng 5 km, chiều ngang hồ khoảng 1, 5 km, chiều sâu hồ so với số 0 hải đồ khoảng 10 mét. Hồ kín có vành san hô bao quanh, chỗ mỏng nhất là 750 mét. Ở đầu Nam đảo có nhà C1 mới xây dựng.
Nhiệm vụ được giao là phá đá đào con kênh đào trên nền đá san hô có chiều dài 750 mét, chiều rộng 45 - 50 mét, chiều sâu 5 - 6 mét so với mặt san hô để nói thông hồ với biển. Viện Kỹ thuật - Bộ tư lệnh Công binh thiết kế do Tiến sĩ Lê Văn Trung làm chủ nhiệm đồ án. Trung đoàn 83 đảm nhiệm thi công.
Năm 1989 tiến hành thi công bước một để tiếp tục hoàn chỉnh thiết kế. Thiếu tá Trần Đình Dần - Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy. Lực lượng thi công của Tiểu đoàn 887 với quân số 35 người do Đại uý Hoàng Duy Lập - Tiểu đoàn trưởng làm khung trưởng, đồng chí Phạm Văn Nhân - Đại đội trưởng Đại đội 9 làm khung phó, kỹ sư Dương Hữu Sơn cán bộ kỹ thuật. Hai tàu HQ 612 và HQ 617 vận chuyển nhân lực, trang bị và thuốc nổ ra thi công. Đơn vị đã tích cực chủ động, khắc phục mọi khó khăn thi công, với hơn 200 tấn thuốc nổ sử dụng an toàn tuyệt đối. Ngày 11 tháng 7 hoàn thành kế hoạch giai đoạn một . Đã mở được một đoạn luồng với chiều dài 210 mét, nhưng chưa đủ chiều rộng. Còn phải nổ thêm một đợt nữa. Qua thi công để có cơ sở thực tế hoàn thiện thêm thiết kế để thi công tiếp theo.
Năm 1990 tiếp tục tổ chức thi công hoàn chỉnh luồng.
Trên cơ sở kết quả thi công đợt 1 năm 1989, hồ sơ thiết kế nổ phá đá mở luồng vào hồ Đá Lớn được hoàn thành. Bộ Tư lệnh Hải quân mà đại diện là Ban quản lý Trường Sa ký hợp đồng với Bộ Tư lệnh Công binh, do Viện kỹ thuật Công binh trực tiếp ký về thiết kế và hướng dẫn kỹ thuật thi công. Trung đoàn Công binh 83 được giao nhiệm vụ thi công. Khung xây dựng được thành lập do Thiếu tá Hoàng Kiền - Phó Tham mưu trưởng làm khung trưởng, Đại uý Phạm Như Mứt - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 886 làm khung phó, kỹ sư Hoàng Đình Đạm, kỹ sư Võ Hồng Khanh là cán bộ kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Đức Thuỵ trợ lý tuyên huấn trung đoàn kiêm chụp ảnh. Nhân lực Đại đội 5 của tiểu đoàn 886 , đồng chí Dương Chóng là đại đội trưởng, đồng chí Hoàng Bá Định - Trung đội trưởng, quân số 50 người cả làm nhà sắt C2 và sửa chữa nhà C3. Một tổ thợ của Ban Kỹ thuật làm nhiệm vụ lái xuồng máy và sửa chữa trang bị kỹ thuật thi công do đồng chí Thuỵ làm tổ trưởng. Viện Kỹ thuật Công binh cử 2 đồng chí: Nguyễn Văn Hưởng và Trần Văn Kháng ra hướng dẫn kỹ thuật giám sát tác giả. Phòng Công binh Hải quân cử Đại uý Nguyễn Văn Long ra chỉ đạo thi công và là giám sát của chủ đầu tư.
Trong bờ Trung tá Đỗ Hữu Bang - Trung đoàn phó , Tham mưu trưởng chỉ huy lực lượng tiếp nhận thuốc nổ, đóng gói vào bao mỗi bao 25 ki lô gam để chuyển xuống tàu đưa ra đảo. Với 7 chuyến tàu chở thuốc nổ ra đảo.
Đầu tháng 3 năm 1990 tàu HQ613 của Vùng 4 do đồng chí Chín làm thuyền trưởng chở khung mở Luồng Đá Lớn cùng 200 tấn thuốc nổ đầu tiên khởi hành từ Cam Ranh ra đảo Đá Lớn . Lúc này gió mùa Đông Bắc còn rất mạnh, tàu không thể neo ở cửa luồng hướng Đông Bắc đảo được mà phải đỗ ở hướng Tây Nam đảo. Việc vận chuyển thuốc nổ vô cùng khó khăn, ban đầu dùng xuồng máy kéo xuồng chuyển tải, mỗi sỹ quan của Trung đoàn 83 phụ trách một xuồng. Có 6 chiếc máy đẩy hỏng dần rồi chết hết luôn. Chuyển sang phương án kéo tay, rải dây từ tàu ở hướng Tây Nam kéo xuồng vượt qua hồ lên hướng Đông Bắc đảo ngược gió ngược sóng với chiều dài gần bốn cây số, vô cùng khó khăn, tiến độ rất chậm.
Khi đó Tư lệnh Giáp Văn Cương lệnh cho 2 tầu LCU chở 2 xe tăng lội nước PT76 do anh Duyết Lữ đoàn phó, Tham Mưu trưởng của Lữ đoàn 955 chỉ huy ra trực chiến ở đảo. Anh Duyết đánh xuồng máy đến gặp Thiếu tá Hoàng Kiền đề nghị nổ nhanh lên để cho tàu vào hồ, chậm bão đến có nguy cơ chìm tàu. Khung đã họp cán bộ toàn đơn vị quyết định đưa quân "đổ bộ lên đảo nhân tạo" nổ năm trước tạo ra ở hai bên bờ luồng ăn ở để thi công. Thế rồi bất ngờ đêm ngày 5 tháng 4 vao lúc 1 giờ sáng một cơn dông nổi lên thật kinh hoàng. Sấm sét ầm ầm mưa trút ầm ầm ...những cơn sóng dữ chồm lên tràn qua hai đảo nhân tạo làm sập hai nhà bạt. Thiếu tá Hoàng Kiền bấm đèn pin chỉ huy bộ đội bám chắc vào các dây neo. Sau gần một giờ cơn mưa dông tan, tập hợp hai bờ kiểm tra quân số điểm danh, gần 70 người có mặt đủ thật là mừng, mất một số đồ đạc. Toàn đội thức trắng đêm củng cố lại lán trại họp toàn đơn vị bàn biện pháp thi công tiếp. Lấy biểu quyết ở lại đảo hay lên tầu, 100% biểu quyết ở lại đảo. Tiếp tục thi công nổ phá theo phương án thiết kế, bảo đảm tiến độ nhanh hơn rất nhiều. Cứ như thế lượng nổ có khối lượng tăng dần theo phương án đã lập. Khi luồng thông, 2 con tàu LCU vào hồ đêm mồng 1 tháng 5, đến đêm 3 tháng 5 cơn bão số 1 nổi lên ở Trường Sa. Thật mừng cho gần 70 cán bộ chiến sĩ khung xây dựng , hai con tàu, hai chiếc xe tăng cùng hai kíp xe của Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126 đều an toàn.
Sau hơn hai tháng thi công với 1400 tấn thuốc nổ được sử dụng. Lượng nổ lớn nhất là 110 tấn gây nổ an toàn. Trong 2 năm 1989 và 1990 với hơn 1600 tấn thuốc nổ, đa số là cấp 5 cùng với bom mìn cấp 5 đưa ra sử dụng. Con kênh đào trên nền đá san hô dài 750 mét, rộng hơn 50 mét, sâu hơn 5 mét đã nối thông hồ Đá Lớn với biển cho các tàu chiến của Hải quân và tàu cá của ngư dân vào tránh gió bão an toàn.




những công trình rất ý nghĩa
Trả lờiXóa