Đánh giá những thành quả nửa nhiệm
kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong các báo cáo, phát biểu của
các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều khẳng định chính từ nguồn nội lực, sự
nỗ lực vươn lên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở trong từng lĩnh vực,
công việc cụ thể, đồng lòng phấn đấu tạo nên sự khởi sắc trên nhiều lĩnh vực,
từ kinh tế, văn hóa cho tới công nghiệp quốc phòng, ngoại giao.... tạo thành
sức mạnh to lớn hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN.
Các văn kiện mà Đảng xem xét,
quyết định tại Đại hội XIII không còn nhắc tới kinh tế tri thức. Thay vào đó là
những chủ trương rất mạnh mẽ về việc phát triển kinh tế số dựa trên đổi mới
sáng tạo, khoa học công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư. Kinh tế số hoàn toàn không phải là sự phủ nhận kinh tế tri thức, mà kinh tế
số chính là kinh tế tri thức được thực tế hóa trên nền tảng khoa học công nghệ
phát triển ở tầm mức rất cao - tự động hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hay
nói tổng quan như nghị quyết là “chuyển đổi số”.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân
(Trưởng bộ môn Thương mại điện tử, Trường đại học Ngoại thương) cho rằng, để
xây dựng, vận hành và phát triển kinh tế tri thức, nước ta cần bổ sung các chỉ
tiêu về kinh tế tri thức trong các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ bản
hằng năm theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ; xây dựng các chiến lược, kế
hoạch phát triển kinh tế tri thức… Ông muốn nêu quan điểm rằng: nếu chúng ta thực sự coi trọng
phát triển kinh tế tri thức thì chúng ta phải thực hiện một cách rất bài bản,
có mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn kế hoạch hằng năm, kế hoạch 5 năm, kế
hoạch trung hạn, kế hoạch dài hạn. Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa, thể chế hóa
chủ trương phát triển kinh tế tri thức của Đảng thành những chiến lược, kế
hoạch và mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể.
15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ bản mà Quốc hội
thông qua hằng năm chỉ có duy nhất chỉ tiêu về lao động đã qua đào tạo là có
"dính dáng" một chút tới kinh tế tri thức, trong khi đòi hỏi của kinh
tế tri thức với người lao động ở mức rất cao, đó là công nhân tri thức.
Đã qua đào tạo chỉ là một khía cạnh của tri thức. Rồi các
chỉ tiêu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội do Tổng cục Thống kê tiến hành
thường xuyên cũng chưa thấy có công cụ cụ thể đo lường sự phát triển của kinh
tế tri thức ở nước ta.
Rõ ràng, khi không có chiến lược, kế hoạch, mục tiêu, chỉ
tiêu cụ thể, cũng không có những con số thống kê thường kỳ, thì phát triển kinh
tế tri thức vẫn chỉ là cái gì đó rất trừu tượng, nằm ngoài sự quan tâm thường
xuyên của từng người dân, người lao động cho tới doanh nghiệp và các cơ quan
nhà nước hữu quan.
Việc bổ sung chỉ tiêu cần phải có những nghiên cứu rất cụ
thể. Cốt lõi nhất là dựa vào các thành phần cấu tạo nên một nền kinh tế tri
thức. Kinh tế tri thức có tỷ lệ đóng góp của tri thức từ đầu vào, trong quá
trình sản xuất sản phẩm cho đến đầu ra của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Đóng góp
của tri thức trong đầu vào chính là việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu khoa
học, phát minh, sáng chế thành các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Đóng góp
của tri thức trong quá trình sản xuất chính là sự ứng dụng khoa học, công nghệ
vào dây chuyền sản xuất, vào máy móc, trang thiết bị, là sự ứng dụng của tự
động hóa, của trí tuệ nhân tạo trong sản xuất. Đóng góp của tri thức cho đầu ra
của sản phẩm là sự vận hành của một thị trường trên cơ sở của công nghệ thông
tin, trong đó có thương mại điện tử, kinh tế số…
Trong nền kinh tế tri thức thì người lao động phải là người
lao động tri thức. Lao động qua đào tạo chỉ là biểu hiện sơ khai của lao động
tri thức. Một lao động tri thức đúng nghĩa phải là lao động đã qua đào tạo nghề
bài bản, trong quá trình lao động thường xuyên có sáng kiến cải tiến kỹ thuật,
sáng chế làm tăng năng suất lao động của bản thân và những người đứng cùng dây
chuyền; hoặc nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; hoặc cải thiện mẫu mã hàng
hóa, nâng cao tính tiện dụng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ…
Một doanh nghiệp có đội ngũ nhà quản lý tri thức, người lao
động tri thức, có sự ứng dụng khoa học công nghệ ở mức độ cao trong cả quản lý
doanh nghiệp, vận hành dây chuyền sản xuất; có hàm lượng tri thức cao cả trong
đầu vào, đầu ra của sản phẩm, có văn hóa coi trọng khoa học công nghệ, sáng
tạo, sáng kiến… mới trở thành doanh nghiệp tri thức.
Một nền kinh tế tri thức cũng không thể thiếu thị trường
khoa học, công nghệ. Thị trường khoa học, công nghệ chính là nơi diễn ra các
giao dịch mua, bán, cho thuê, cho mượn và cả cho, tặng các kết quả, công trình
là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học để ứng dụng trong sản xuất, kinh
doanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Một nền kinh tế tri thức cũng phải đo lường được mức độ, tỷ
lệ đóng góp của khoa học công nghệ trong GDP nói chung và trong từng lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh nói riêng, thậm chí là trong từng sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ.
Nếu cứ nhìn vào những thành phần này và nếu chúng ta thực sự
muốn xây dựng, vận hành và phát triển kinh tế tri thức thì trong hệ thống chỉ
tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu phải bổ sung tỷ lệ lao động có sáng
kiến cải tiến kỹ thuật, sáng kiến nâng cao năng suất lao động trong chỉ tiêu tỷ
lệ lao động đã qua đào tạo; tỷ lệ đầu tư từ GDP cho giáo dục, đào tạo, khoa
học, công nghệ; số lượng công trình nghiên cứu khoa học, công nghệ (trong đó có
tỷ lệ công trình nghiên cứu khoa học, công nghệ được giao dịch trên thị trường
khoa học, công nghệ và được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh); tỷ lệ đóng góp
của khoa học, công nghệ vào GDP. Chỉ tiêu này nếu được nêu trong nghị quyết của
Quốc hội, Chính phủ thì trở thành căn cứ pháp lý để triển khai thực hiện.
Cùng với đó, Quốc hội, Chính phủ cần nghiên cứu, sớm ban
hành các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế tri thức để cụ thể hóa chủ
trương của Đảng; không cần xây dựng một đạo luật riêng về kinh tế tri thức
nhưng các nội hàm về kinh tế tri thức phải được thể hiện trong hệ thống luật
pháp về sản xuất, kinh doanh, khoa học, công nghệ. Đó là Luật Khoa học và Công
nghệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã, Luật
Thương mại điện tử, Luật Giao dịch điện tử, Bộ luật Lao động, Luật Việc làm,
Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Cạnh tranh… Như vậy sẽ tạo ra một môi trường
pháp lý đủ tường minh, đủ mạnh để thúc đẩy xây dựng, vận hành và phát triển nền
kinh tế tri thức. Tổng cục Thống kê cũng cần triển khai và thống kê đầy đủ về
kinh tế tri thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá cũng như xây dựng,
hoạch định chính sách, pháp luật.
Từ khi triển khai thi hành Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần
thứ XI của Đảng, nền kinh tế tri thức của nước ta đang dần được định hình và đã
có những kết quả rất cụ thể. Đó là sự quan tâm phát triển đội ngũ nhà khoa học,
trí thức; sự trân trọng ý kiến phản biện, xây dựng của các nhà khoa học, đội
ngũ trí thức; đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ từ ngân sách
nhà nước ngày một được bảo đảm hơn; xã hội và cộng đồng doanh nghiệp cũng thể
hiện rất rõ sự quan tâm và có những tôn vinh với các nhà khoa học, công trình
nghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp lớn cho xã hội. Điển hình
như Tập đoàn VinGroup có Giải thưởng Khoa học và Công nghệ toàn cầu VinFuture
nổi tiếng toàn thế giới. Ứng dụng của khoa học, công nghệ trong sản xuất, kinh
doanh ngày càng lớn. Cả đầu vào, đầu ra và quá trình vận hành dây chuyền sản
xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đều có sự đóng góp không nhỏ
của khoa học, công nghệ nói riêng và của tri thức nói chung.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét