TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG
NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HOÀ BÌNH, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT
TRIỂN ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ MỚI THEO TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội
dung quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an
ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn
dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng
toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế,
văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh
với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”[3]. Do đó, từ vị trí, trọng trách của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn
dân cần phải quán triệt sâu sắc rằng: tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn
dân và nền an ninh nhân dân ở nước ta hiện nay,. Thể hiện:
Trước hết, phải tăng cường tính chất “vì dân, của dân, do
dân” của nền quốc phòng, an ninh phát triển theo hướng: toàn dân, toàn diện,
độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, nhằm giữ vững hoà bình, ổn định đất
nước, sẵn sàng đánh bại mọi loại hình xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế
lực đế quốc và bọn phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hai
là, tăng cường
xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải đáp ứng các cơ cấu mới, nội dung mới của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới so với cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc trước đây. Nội dung xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước rất phong phú và
rộng lớn, bao gồm toàn diện các lĩnh vực về: chính trị, kinh tế, xã hội, quân
sự, quốc phòng v.v. Trong đó, phải thường xuyên coi trọng và đẩy mạnh việc giáo
dục quốc phòng; quán triệt sâu sắc và vận dụng tốt quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược, kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh
tế, phối hợp chặt chẽ các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xác định
rõ trách nhiệm trước hết là của đội ngũ cán bộ, trên cơ sở đó động viên toàn
dân và cả hệ thống chính trị tự giác và tích cực chấp hành tốt nhiệm vụ quốc
phòng thuộc phạm vi trách nhiệm của mỗi người, mỗi tổ chức.
Ba là, tập trung xây dựng các tỉnh,
thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, thực sự là nền tảng của nền quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Chuẩn bị tiềm lực và sức mạnh mọi
mặt, phát huy sức mạnh tại chỗ của từng khu vực, từng địa phương, coi trọng xây
dựng cơ sở vững mạnh toàn diện. Luôn luôn cảnh giác, tích cực, chủ động đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
Bốn là, thực hiện ngày càng tốt hơn việc
kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với
kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch kinh tế - xã hội. Củng cố
và bảo vệ các công trình quốc phòng và khu quân sự. Tiếp tục xây dựng và phát
triển các khu kinh tế - quốc phòng trên các hướng chiến lược, trên các địa bàn
trọng điểm, gắn với việc phát triển vùng cao biên giới, vùng đồng bào dân tộc,
thực hiện tốt hơn chương trình “xoá đói giảm nghèo”, chương trình phát triển
kinh tế biển, đảo, đánh cá xa bờ, chương trình trồng và bảo vệ rừng v.v.
Năm là, tạo bước phát triển mới về chất
lượng và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trong đó, tiếp tục xây dựng
Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức
hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Đối với lực lượng dân
quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, trước hết cần coi trọng về chính trị, tổ
chức phù hợp với tình hình thực tiễn từng địa phương theo đúng Pháp lệnh về Dân
quân tự vệ và Pháp lệnh về Lực lượng dự bị động viên. Lực lượng vũ trang, đặc
biệt là Quân đội phải thực sự là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn
dân, luôn vững vàng, kiên định, nhạy bén về chính trị, có năng lực tiến công
địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng; có tổ chức cân đối, hợp lý, trang bị
đồng bộ, từng bước hiện đại đáp ứng nhu cầu thời bình và sẵn sàng phát triển
theo nhu cầu thời chiến.
Sáu là, để tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân
một cách cơ bản, toàn diện, hiện đại cần phải xây dựng một hệ thống cơ sở hạ
tầng của nền quốc phòng toàn dân. Đó là hệ thống nguồn nhân lực có chất lượng
cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; hệ thống thông tin viễn thông chỉ
huy, lãnh đạo, thông báo, báo động hiện đại, vững chắc; hệ thống giao thông
chiến lược trên bộ, trên biển, trên không; hệ thống công nghiệp quốc phòng cùng
cơ sở bảo đảm hậu cần, vật chất, kỹ thuật; hệ thống công trình quốc phòng, công
trình chiến đấu, công trình phòng tránh. Tất cả nhằm tạo nên sức mạnh đủ sức
ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực phản động hòng xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, mưu toan thôn
tính, xâm lîc nước
ta. Đồng thời, sẵn sàng đánh bại các loại hình chiến tranh xâm lược của các lực
lượng hiếu chiến và phản động quốc tế.
Bảy là, tăng cường xây dựng nền quốc
phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với củng cố môi trường hoà bình và tạo điều
kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá
các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam là bạn, lµ đối tác tin cậy vµ có trách nhiệm trong khu vực và
trong quan hệ với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình và
phát triển.
Tám là, thường xuyên cập nhật tình hình thực tiễn cần nghiên
cứu, bổ sung, phát triển tư tưởng, quan điểm, lý luận và tri thức đối ngoại
quân sự, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội./.
* Tài liệu tham khảo
1- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001,
tr.117.
2-Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2001,
tr.234.
3-Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQG,
H.2021, tr.157.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét