Qua tổng kết lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm
đưa ra khái niệm khái niệm văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn." Quan niệm của Hồ Chí
Minh đã chỉ ra được cả nguồn gốc động lực và cấu trúc của văn hóa.
Về vị trí, vai trò của văn hóa, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn
hóa là một trong bốn lĩnh vực quan trọng để phát triển đất nước: “Trong công
cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng
ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa."
Người đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa với các lĩnh
vực khác: Văn hóa không thể đứng ngoài “mà phải ở trong kinh tế và chính trị”
và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm trong văn hóa.
Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi."
Đến Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh
tiếp tục nhấn mạnh: "Văn hóa soi đường cho sự phát triển và tiến bộ của xã
hội." Luận điểm này của Người thể hiện tầm nhìn vượt thời đại khi nhấn
mạnh vai trò dẫn dắt của văn hóa trong sự phát triển của mỗi quốc gia.
Để xây dựng nền văn hóa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra
5 điểm lớn: “1 - Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 2 - Xây dựng luân
lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3 - Xây dựng xã hội: mọi sự
nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4 - Xây dựng chính
trị: dân quyền. 5 - Xây dựng kinh tế." Đối với mỗi một khía cạnh của văn
hóa, Người lại đưa ra những yêu cầu cụ thể.
Về giáo dục, Người nhấn mạnh “một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu,” việc xây dựng nền giáo dục mới phải được coi là nhiệm vụ cấp bách, có ý
nghĩa chiến lược, cơ bản, lâu dài, có tác dụng “làm cho dân tộc chúng ta trở
nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với
nước Việt Nam độc lập." Do đó, điều quan trọng trước tiên ngay khi nước
nhà vừa giành được độc lập là mở ngay chiến dịch chống “giặc dốt.”
Về văn hóa-văn nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các quan
điểm cơ bản định hướng cho việc xây dựng nền văn nghệ cách mạng: “Văn hóa nghệ
thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy." Nội
dung này là sự nhấn mạnh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khẳng định
vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ trong sự nghiệp cách mạng, coi mặt trận
văn hóa cũng có tầm quan trọng như mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế.
Đối với mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và tự do của văn nghệ
sỹ, Người luôn chỉ rõ: dân tộc bị áp bức thì văn nghệ sỹ cũng mất tự do. Văn
nghệ muốn tự do phải tham gia cách mạng...
Về xây dựng đời sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, để
xây dựng đời sống mới, thì phải xây dựng đạo đức mới, xây dựng lối sống văn
minh, nếp sống mới. Trước hết cần “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần
nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính vì “Nêu cao và thực hành
cần, kiệm, liêm, chính tức là nhen lửa cho đời sống mới." Xây dựng nếp
sống mới (nếp sống văn minh) là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở
thành thói quen; trong đó có sự kế thừa, phát triển những thuần phong mỹ tục,
đồng thời cải tạo những phong tục, tập quán cũ, lạc hậu và bổ sung những cái
mới, tiến bộ...
Đối với vấn đề di tích, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, việc bảo
tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam. Do đó,
chỉ hơn 3 tháng sau khi thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và công bố
Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
(bao gồm tất cả các di tích đình chùa, đền miếu, cung điện, thành quách, lăng
mộ, bia ký, đồ vật, văn bằng, sách vở...).
Trong xây dựng nền văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “phát
triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và tiếp thu những cái mới
của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất
dân tộc, khoa học và đại chúng."
Hai quá trình “giữ gìn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa dân
tộc” và “tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” cùng diễn ra, làm cho nền văn hóa
mới ở Việt Nam vừa mang những đặc trưng phản ánh cốt cách, bản sắc và truyền
thống văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với trình độ văn minh tiên tiến,
hiện đại của nhân loại. Hơn nữa, cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc khi được
phát triển, phát huy hết mức sẽ đạt đến tầm cao nhân loại, trở thành giá trị
chung của nhân loại.
Cùng với những tư tưởng sâu sắc về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn là một tấm gương mẫu mực về học tập, bảo tồn vốn cổ, bảo vệ văn hóa tốt đẹp
của dân tộc. Đặc biệt, Người rất trân trọng, gìn giữ và làm trong sáng tiếng
nói dân tộc để nâng tầm văn hóa Việt Nam: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu
đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm
cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp."
Đặc biệt quan tâm đến phát triển văn hóa, trước lúc đi xa, Người
đã dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn
hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân"./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét