Từ chủ trương
này, năm 1966, Trường “ Nữ trinh sát đặc biệt” (với mật danh trường Y) đã ra
đời. Trường chỉ gồm 3 lớp với tổng cộng 60 nữ học viên, ở độ tuổi 12-14, được
tuyển chọn từ các gia đình có thành phần cơ bản, trung thành với cách mạng.
Sau khi qua đào tạo, các nữ trinh sát đặc biệt
này có nhiệm vụ hoạt động nằm vùng trong lòng địch, nắm tình hình, giữ vững
liên lạc với Bộ Công an và Trung ương Đảng. Đúng với tên gọi trường nữ trinh
sát đặc biệt, các học viên đều phải trải qua một chương trình đào tạo đặc biệt,
rất bài bản và khắt khe, nhất là về bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và
kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch tạm chiếm.
Tất cả các học viên khi ấy còn rất trẻ, ấy vậy
mà đã phải học về kỹ thuật đào hầm, nằm hầm bí mật không để lại dấu vết; kỹ
thuật bắt liên lạc với đồng đội trong đêm tối, nơi hoang vắng, tạo vỏ bọc sống
hợp pháp khi hoạt động nghiệp vụ… Quan trọng hơn cả là phải đảm bảo yếu tố bí
mật của nhiệm vụ, ngay cả người thân trong gia đình cũng không được biết.
Bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh
cục bộ buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang, đơn phương ngừng ném bom miền Bắc và chấp
nhận ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Nguy cơ miền Bắc bị tấn công đánh
chiếm không còn, trong khi miền Nam đang rất cần đội ngũ cán bộ thông tin liên
lạc, Thượng tá Nguyễn Thị Hải và nhiều học viên trường Y đã tình nguyện xin
được vào chiến đấu ở miền Nam. Nguyện vọng đó đã được lãnh đạo Bộ Công an chấp
thuận.
Cuối năm 1967, 18 nữ trinh sát đặc biệt trường
Y được lựa chọn trong đó có bà đã lần lượt được chi viện vào chiến trường miền
Nam. Lúc đó, bà sắp tròn 15 tuổi. Dù biết rằng vào chiến trường, cuộc sống sẽ
vô cùng cam go vất vả, ngày ra đi khó hẹn ngày về, song bà và các chị em trường
Y ai cũng háo hức lên đường.
Những năm tháng ở chiến trường, dù cuộc sống
vô cùng gian khổ. Đói cơm, nhạt muối quanh năm. Món ăn thường trực là củ mài,
củ chuối, củ khoai, củ nầng, cùng rau rừng, măng đắng, và ai nấy đều gầy guộc,
xanh xao bởi những trận sốt rét rừng, hay những trận mưa bom ác liệt. Song họ
vẫn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng, luôn yêu thương đùm
bọc, động viên nhau kiên trì bám trụ chiến trường…
Cho đến hôm nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi
qua, gặp lại những nữ cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam năm nào, dù
nay tóc đã bạc, nhưng những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy vẫn in đậm trong
ký ức của họ. Đó không chỉ là những tháng ngày đói cơm, nhạt muối, những trận
sốt rét rừng xanh xao, những mùa mưa xối xả không gạo, không rau hay tiếng gầm
rú của B52 rải thảm mà còn là những nỗ lực không ngừng để hàng triệu bức điện
mật được chuyển đến và đi chính xác, kịp thời, nhằm báo cáo về Trung ương về
tình hình chiến trường miền Nam cũng như thông báo cho An ninh miền Nam
những tin tức có tầm chiến lược, những tin tức đột xuất, giúp bảo vệ an toàn cơ
quan đầu não, bảo vệ trong sạch nội bộ, tránh được nhiều tổn thất những lần
địch dùng máy bay B52, phi pháo hay những đợt hành quân, đánh phá hoặc xâm nhập
vào nội bộ của ta./.
TRƯỜNG
TỒN
Theo Công an nhân dân
Phụ nữ Việt Nam rất kiên cường, trong chiến tranh đã có biết bao nhiêu người phụ nữ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để cống hiến cho đất nước
Trả lờiXóa