Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

Những người phụ nữ Việt Nam nơi tuyến lửa


Nhớ về những năm tháng thanh xuân rực lửa ấy, Thượng tá Nguyễn Thị Hải, Uỷ viên Ban liên lạc Cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam - một trong các học viên trường “Nữ trinh sát đặc biệt” xung phong vào tuyến lửa miền Nam chia sẻ, để chủ động đối phó với âm mưu của đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Công an đã tổ chức trường Nữ trinh sát đặc biệt (mật danh trường Y) để đào tạo về công tác báo vụ và nghiệp vụ Công an cho các nữ học viên, nhằm cài cắm vào các địa bàn trọng điểm, đề phòng trường hợp Mỹ mở rộng chiến tranh đưa quân ra đánh chiếm miền Bắc.
Từ chủ trương này, năm 1966, Trường “ Nữ trinh sát đặc biệt” (với mật danh trường Y) đã ra đời. Trường chỉ gồm 3 lớp với tổng cộng 60 nữ học viên, ở độ tuổi 12-14, được tuyển chọn từ các gia đình có thành phần cơ bản, trung thành với cách mạng.
Sau khi qua đào tạo, các nữ trinh sát đặc biệt này có nhiệm vụ hoạt động nằm vùng trong lòng địch, nắm tình hình, giữ vững liên lạc với Bộ Công an và Trung ương Đảng. Đúng với tên gọi trường nữ trinh sát đặc biệt, các học viên đều phải trải qua một chương trình đào tạo đặc biệt, rất bài bản và khắt khe, nhất là về bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch tạm chiếm.
Tất cả các học viên khi ấy còn rất trẻ, ấy vậy mà đã phải học về kỹ thuật đào hầm, nằm hầm bí mật không để lại dấu vết; kỹ thuật bắt liên lạc với đồng đội trong đêm tối, nơi hoang vắng, tạo vỏ bọc sống hợp pháp khi hoạt động nghiệp vụ… Quan trọng hơn cả là phải đảm bảo yếu tố bí mật của nhiệm vụ, ngay cả người thân trong gia đình cũng không được biết.
Bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh cục bộ buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang, đơn phương ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Nguy cơ miền Bắc bị tấn công đánh chiếm không còn, trong khi miền Nam đang rất cần đội ngũ cán bộ thông tin liên lạc, Thượng tá Nguyễn Thị Hải và nhiều học viên trường Y đã tình nguyện xin được vào chiến đấu ở miền Nam. Nguyện vọng đó đã được lãnh đạo Bộ Công an chấp thuận.
Cuối năm 1967, 18 nữ trinh sát đặc biệt trường Y được lựa chọn trong đó có bà đã lần lượt được chi viện vào chiến trường miền Nam. Lúc đó, bà sắp tròn 15 tuổi. Dù biết rằng vào chiến trường, cuộc sống sẽ vô cùng cam go vất vả, ngày ra đi khó hẹn ngày về, song bà và các chị em trường Y ai cũng háo hức lên đường.
Những năm tháng ở chiến trường, dù cuộc sống vô cùng gian khổ. Đói cơm, nhạt muối quanh năm. Món ăn thường trực là củ mài, củ chuối, củ khoai, củ nầng, cùng rau rừng, măng đắng, và ai nấy đều gầy guộc, xanh xao bởi những trận sốt rét rừng, hay những trận mưa bom ác liệt. Song họ vẫn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng, luôn yêu thương đùm bọc, động viên nhau kiên trì bám trụ chiến trường…
 Cho đến hôm nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gặp lại những nữ cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam năm nào, dù nay tóc đã bạc, nhưng những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy vẫn in đậm trong ký ức của họ. Đó không chỉ là những tháng ngày đói cơm, nhạt muối, những trận sốt rét rừng xanh xao, những mùa mưa xối xả không gạo, không rau hay tiếng gầm rú của B52 rải thảm mà còn là những nỗ lực không ngừng để hàng triệu bức điện mật được chuyển đến và đi chính xác, kịp thời, nhằm báo cáo về Trung ương về tình hình chiến trường miền Nam cũng như  thông báo cho An ninh miền Nam những tin tức có tầm chiến lược, những tin tức đột xuất, giúp bảo vệ an toàn cơ quan đầu não, bảo vệ trong sạch  nội bộ, tránh được nhiều tổn thất những lần địch dùng máy bay B52, phi pháo hay những đợt hành quân, đánh phá hoặc xâm nhập vào nội bộ của ta./.
       TRƯỜNG TỒN
Theo Công an nhân dân


1 nhận xét:

  1. Phụ nữ Việt Nam rất kiên cường, trong chiến tranh đã có biết bao nhiêu người phụ nữ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để cống hiến cho đất nước

    Trả lờiXóa