Bảy mươi sáu
năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ đưa ta về với những kỷ niệm sống động thuở ban đầu,
một thời đạn bom bão lửa. Sự hồi tưởng này cho ta thêm một lần thấu hiểu và thấu
cảm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tư tưởng, tình cảm của Người với thương binh,
liệt sĩ. Người từng nói, chỉ có đế quốc, thực dân là một lũ ác quỷ phải đánh đuổi
nó đi, còn mọi người lao khổ cùng có chung cảnh đời và số phận, đều là bạn bè,
đồng chí của nhau: “vàng đen trắng đỏ đều là anh em”, “Đã là máu thì máu nào
cũng đỏ”, “Đã là nước mắt thì nước mắt nào cũng có vị mặn”. Nhưng trong thế giới,
còn chiến tranh xâm lược, còn kẻ thống trị và muôn nỗi thống khổ của nhân dân
thì phải chiến đấu để bảo vệ lương tri và phẩm giá con người: “thà hy sinh tất
cả nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong
chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, những mất mát hy sinh là khó tránh khỏi. Thương
binh, liệt sĩ là nỗi đau chung không của riêng ai. Dẫu biết rằng “Quyết tử để tổ
quốc quyết sinh”, nhưng Hồ Chí Minh vẫn tìm mọi cách để tránh đổ máu, ít thương
vong nhất, còn khi buộc phải cầm súng chiến đấu, thì thương binh, liệt sĩ sẽ
nhiều thêm, Người không khỏi đau đớn như đứt từng khúc ruột.
Trong các cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, từ năm 1946 cho đến khi
qua đời, Người đã bao lần viết thư thăm hỏi, an ủi và động viên, kêu gọi đồng
bào cả nước giúp đỡ thương binh và các gia đình liệt sĩ. Sự săn sóc ân cần và
tình thương yêu của Người là nguồn động viên to lớn đối với thương, bệnh binh
và thân nhân các liệt sĩ. Đó còn là động viên tinh thần yêu nước, đoàn kết, ra
sức thi đua, huy động mọi khả năng, sức lực của toàn dân làm cho kháng chiến tất
thắng, kiến quốc tất thành, phấn đấu cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc
và hạnh phúc của nhân dân. Theo Người, đó là cách thiết thực nhất để đền ơn đáp
nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ. Những ngày đầu xây dựng chính thể Cộng hòa
dân chủ muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài, vận nước ngàn cân treo sợi
tóc. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Người ra lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ cả
nước đồng lòng chống giặc để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Lời kêu gọi
của Người như chuyển đi một thông điệp lịch sử, quyết giành độc lập, tự do cho
Tổ quốc và nhân dân, thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ. Ngày
07/11/1946, Người thông báo một quyết định quan trọng thấm đẫm tình thương yêu:
“Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ
đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc
trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân
ái cho gia đình các liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của
tôi”.
Đặc biệt, bức
thư đầy xúc động Người viết tháng 01/1947 gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một nhân sĩ,
trí thức công giáo, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, chia buồn về việc người con
trai của Bộ trưởng đã hy sinh: “Tôi được báo cáo rằng: con giai ngài đã oanh liệt
hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con
cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu
của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột,… Ngài đã đem
món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc
ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở
trên trời cũng bằng lòng và sung sướng. Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và
gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng”2. Bức thư này là một điển hình cho
tình cảm thân thiết, máu thịt của Người đối với thương binh, liệt sĩ và gia
đình họ. Đau đớn mà không ủy mị, tôn vinh sự hy sinh cao quý vì Tổ quốc của các
liệt sĩ; đồng thời, nêu cao lòng tin và đức tin vào sự nghiệp kháng chiến, nói
rõ đồng bào và Tổ quốc sẽ mãi khắc sâu công lao của các liệt sĩ và không bao giờ
quên ơn họ.
Ngày
17/7/1947, Người có thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày thương binh
toàn quốc” nhằm vận động lấy ngày 27/7 hằng năm trở thành Ngày Thương binh - Liệt
sĩ. Người viết : “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương
máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào,
mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn,
phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”3. Người đề nghị và tin tưởng “Bây giờ
chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một
bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương. Ngày 27/7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng
hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh,… Luôn luôn tin vào lòng nhường
cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ
mãn. Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi,
một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch,
cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00)”.
Tháng 7/1948,
trong Thư gửi anh em thương và bệnh binh, Người động viên, an ủi và căn dặn anh
em, nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức
khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác, tăng gia sản xuất để giúp ích
cho Tổ quốc cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ
trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người
chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận.
Tháng 09/1951,
Người viết Thư gửi anh em thương, bệnh binh trại dệt chiếu (Tuyên Quang)5 cám
ơn đã gửi biếu mình bốn chiếc chiếu và mong anh em mạnh khỏe, cố gắng, tiến bộ
mãi. Trong thư Người ân cần hỏi thăm anh em thương, bệnh binh mất bao nhiêu thời
gian, công sức để dệt được một chiếc chiếu và nghề dệt chiếu có đủ ăn đủ mặc
không. Và Người gửi biếu lại anh em thương, bệnh binh bộ áo mà chị em phụ nữ biếu
mình, để làm giải thưởng thi đua. Đặc biệt, ngày 05/06/1952, Người còn viết
trong loạt bài tuyên dương công trạng các anh hùng, chiến sĩ thi đua, có bài viết
cảm động về người thương binh trở thành anh hùng lao động số một, Ngô Gia Khảm
- người đúc quả lựu đạn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam - bị thương ba
lần vì cứu nhà máy, lần thứ ba hỏng cả mắt, tay, mũi, miệng, què cả hai tay vẫn
không nản chí, đêm ngày cố gắng tiến bộ, không sợ khổ, vượt mọi khó khăn, kiên
quyết vượt mức nhiệm vụ. Một lần nữa minh chứng cho câu nói của Người “Thương
binh tàn mà không phế”.
Ngày
27/7/1959, trong thư gửi anh em thương binh và gia đình liệt sĩ, Người chúc các
gia đình liệt sĩ trở thành gia đình cách mạng gương mẫu. Đó là sự tôn vinh và
tình cảm cao quý của Người. Người còn khen ngợi những gương thương binh điển
hình: đồng chí Lê Danh ở tập đoàn Sao Mai (Hải Dương), Lưu Văn Bổng ở tập đoàn
Quang Vinh (Quảng Bình) được thưởng Huân chương và những thương binh cụt tay,
chân vẫn có thành tích sản xuất, được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch xã, chủ nhiệm
hợp tác xã ở Thái Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, v.v. Đủ thấy sự quan tâm tỉ mỉ,
sâu sắc và sự tin cậy, nâng niu giá trị con người mà Người dành cho những
“Thương binh tàn nhưng không phế”.
Người cũng ân
cần nhắc nhở anh em thương binh về sống với dân không nên có những đòi hỏi quá
đáng, không được tỏ ra công thần vì có thành tích chiến đấu. Phải luôn gần dân,
tôn trọng nhân dân, khiêm tốn học hỏi, cố gắng tùy theo sức của mình mà tham
gia công tác sản xuất, công tác xã hội ở địa phương, luôn phấn đấu giữ vững
truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Những anh em
an dưỡng, điều dưỡng ở các trại vì thương tật nặng hãy yên tâm điều trị, không
được bi quan chán nản. Người cũng nhiều lần gửi thư cho Bác sĩ, Bộ trưởng Vũ
Đình Tụng vào Ngày Thương binh - Liệt sĩ hằng năm, đề nghị chuyển một tháng
lương của mình, cùng áo và khăn tay mà đồng bào gửi biếu để làm quà cho thương
binh. Người còn gợi ý về việc động viên đồng bào đón thương binh về xã để nuôi
dưỡng, trích một phần đất công hoặc mượn đất của những điền chủ hảo tâm, hoặc vỡ
đất hoang, tổ chức sản xuất, lấy lương thực, thực phẩm để đảm bảo đời sống cho
thương binh. Đây là nghĩa vụ đền ơn đáp nghĩa chứ không phải “làm phúc”; thể hiện
sự chu đáo, ân tình và hết sức tỉ mỉ, cụ thể trong tư duy lãnh đạo, quản lý của
Người mà cũng từ đó ta thấy thấm thía tình cảm tình yêu thương của Người dành
cho thương binh, liệt sĩ.
Trong những
ngày ốm nặng, trên giường bệnh, anh em phục vụ đem quạt máy vào phòng, nhưng
Người nói đem quạt này cho các chú thương binh trong trại điều dưỡng, nơi đó cần
hơn, ở đây mình có gió mát của cây vườn là được rồi. Từ những điều bình dị ấy
ta càng cảm nhận sâu thêm tầm vóc vĩ đại và hơn tất cả là tình thương yêu của
Người dành cho mỗi chúng ta, đặc biệt là đối với thương binh, liệt sĩ.
bài rất hấp dẫn
Trả lờiXóa