Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền
văn minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua
các thời đại, các chế độ xã hội khác nhau với nội dung cơ bản dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân. Theo Karl Marx và Friedrich Engels, dân chủ là một
phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng
lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện
đầy đủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của dân chủ, coi dân chủ là
nhân tố động lực của sự phát triển; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để
giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị
cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu
ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”. Phát huy
dân chủ là phát huy tài dân, muốn vậy, thì phải trọng dân, gần dân, hiểu dân, học
dân và có trách nhiệm với dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức
thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về
kinh tế, dân chủ về chính trị.
Dân chủ cơ sở là một bước tiến mới trong nhận thức lý luận dân chủ và
dân chủ hóa ở nước ta. Trong quá trình thực thi quyền lực bao gồm quyền lực
chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước, cấp cơ sở có vai trò quan trọng bởi
đây là nơi trực tiếp làm việc với Nhân dân, trực tiếp đón nhận và trực tiếp thực
hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
cấp trên tại cơ sở. Do đó có thể khẳng định, cấp cơ sở có vị trí đặc biệt quan
trọng không chỉ trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi
phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cộng đồng dân
cư cùng toàn thể địa bàn; dân chủ ở cơ sở được ví như “chiếc cầu nối” giữa dân
với Đảng; giữa trung ương với chính quyền địa phương. Từ quá trình triển khai
trong thực tiễn, quần chúng phát hiện ra những hạn chế, bất cập trong chủ
trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, nhân dân sẽ
phản ánh, kiến nghị đến cấp ủy và chính quyền cơ sở đề xuất, kiến nghị đến
Đảng, Nhà nước và cấp trên thực hiện điều chỉnh kịp thời.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của
Nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được
thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo
luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo
quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta
là: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển đất nước”. Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc
đổi mới đã đề ra phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và
đúc kết bài học kinh nghiệm: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải
quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân lao động. Tinh thần đó xuyên suốt các kì Đại hội tiếp theo của Đảng
ta.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát” song nhấn mạnh và bổ sung thêm yếu tố
“dân thụ hưởng” - nghĩa là dân làm thì dân phải được thụ hưởng, nếu làm mà
không được thụ hưởng thì không tạo động lực để dân làm. Động lực chính là lợi
ích; lợi ích phải hài hòa giữa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước
với phương châm tổng quát và tạo thành một “vòng tròn khép kín”, đó là: “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-
CT/TW, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở” - coi đây là một
khâu quan trọng và cấp bách để phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở -
nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi
thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Đặc
biệt, ngày 10-11-2022, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Với 6
chương, 91 điều, Luật đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa
quy định của Hiến pháp năm 2013 vào cuộc sống, khẳng định trên thực tế quyền
con người, quyền công dân, chủ quyền của nhân dân theo nguyên tắc hiến định:
“Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.
Đây là đạo luật cụ thể hóa phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Cụ thể là, những nội dung công khai để
dân biết (đó là các quy định liên quan đến nội dung và hình thức công khai
thông tin để dân biết ở tất cả các loại hình cơ sở theo hướng cập nhật, bổ sung
các quy định tương ứng trong các luật chuyên ngành có liên quan); những nội
dung dân bàn và quyết định (tại thôn, tổ dân phố; tại cơ quan, đơn vị và tại tổ
chức có sử dụng lao động); những nội dung dân tham gia ý kiến (các quy định
liên quan đến nội dung và hình thức nhân dân tham gia ý kiến ở tất cả các loại
hình cơ sở phù hợp với các luật chuyên ngành có liên quan); những nội dung
dân kiểm tra, giám sát (để phát huy được sự tham gia và vai trò của từng người
dân trong việc kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức và cơ quan công
quyền, phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, phát huy dân
chủ, tăng tính phản biện và sức sáng tạo của nhân dân trong việc thực hiện dân
chủ ở cơ sở) và những nội dung dân thụ hưởng (người dân được nhà nước và
pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, các quyền về thực
hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có
liên quan; được thông tin đầy đủ về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách
an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và của chính quyền
địa phương mà mình được hưởng; được thụ hưởng thành quả đổi mới, phát triển
kinh tế - xã hội, chế độ an sinh xã hội và sự an toàn, ổn định của đất nước, của
địa phương và ở cộng đồng dân cư nơi sinh sống; thành quả đổi mới, phát triển
của cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động nơi làm việc; được tạo điều
kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng).
Với đạo luật này, thực hiện dân chủ ở cơ sở không còn là khẩu hiệu chung
chung mà đã trở thành quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền của người
dân, nhân dân đã có công cụ pháp lý vững chắc để thực hiện quyền làm chủ của
mình. Người dân được biết, được bàn, được giải phóng sức sản xuất và sáng tạo,
được kiểm tra, giám sát, tài chính công khai, minh bạch hơn, từ đó nhân dân có
điều kiện thực tế để thụ hưởng những thành tựu mà dân chủ mang lại.
dân chủ phải thực sự
Trả lờiXóa