Theo quy định tại Điều 19, Công ước ICCPR năm 1966: “Việc thực hiện
quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế
này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của
người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo
đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn
luận không phải là tuyệt đối.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, mạng xã hội xuyên quốc gia
như Facebook, Twitter, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao
lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới. Nhưng chưa bao giờ
môi trường ảo lại nhiều tác động tiêu cực như hiện nay. Tình trạng lợi dụng tự do
ngôn luận phát tán tin giả, tin sai sự thật, các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo
dục, kích động bạo lực trên không gian mạng đang diễn biến rất phức tạp.
Nhận thức rõ những nguy cơ lợi dụng tự do ngôn luận trên không gian mạng
đe dọa đối với an ninh quốc gia, nhiều nước trên thế giới cũng đã triển khai các
biện pháp nhằm kiểm soát tốt hơn những thông tin được phép đăng tải trên mạng
xã hội và hạn chế tối đa sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại.
Tại Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa
án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng
phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn
mà không bị xem là vi hiến.
Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm
khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người,
chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích
động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm
phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh
quốc gia (Luật Hình sự)… Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng Internet cũng
chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Ngoài ra, nhiều nước châu Âu khác cũng đưa ra các quy định với hình phạt
cụ thể trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động, tiến
hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Italia, Tây Ban
Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của
tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung nhằm
ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên
Internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên Internet với
sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp mạng lớn nhất thế giới bao gồm
Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft.
Những động thái này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận đúng nghĩa của
người dân và tạo cơ sở để xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, văn minh. Rõ
ràng, trong bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt
đối, các quốc gia đều có quy định xử lý hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự
do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân,
không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp
luân lý và luật pháp.
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong
đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền
hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự
do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước
ngoài” (Điều 10).
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện
các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Khung pháp lý của nước ta về
quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế
về quyền con người.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái
của Internet và mạng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính
sách phù hợp nhằm phát triển Internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh
mạng và phòng, chống lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá
chính quyền, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian
mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định
hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát
cũng hết sức cần thiết.
Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử
dụng mạng Internet. Nâng cao nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của
người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường
mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành
bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng.
Cơ quan chức năng cần thường xuyên theo dõi, khảo sát, đánh giá, kịp thời
điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách giúp quản lý
hiệu quả, vừa phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt
xã hội và cộng đồng, vừa theo kịp sự phát triển của không gian mạng…
Tự do là vấn đề Việt Nam rất tôn trọng; nhưng tự do phải trong khuôn khổ của pháp luật; điều này ở các nước đều như vậy.
Trả lờiXóa