Trong điều kiện toàn cầu hóa, bảo vệ an ninh quốc gia mở
rộng cả về không gian và nội dung. Tư duy bảo vệ an ninh quốc gia
chuyển mạnh từ thụ động, khép kín, biệt lập sang chủ động, hợp tác và phát
triển. Bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới
hạn trong phạm vi biên giới quốc gia, mà mở rộng ngoài phạm vi lãnh thổ; đối
tượng đấu tranh để bảo vệ an ninh quốc gia có
sự thay đổi nhanh chóng.
Hiện nay, an ninh xã hội, trọng tâm là an ninh trong
tôn giáo, dân tộc, an ninh nông thôn, đô thị, giải quyết các xung đột,
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân đang chịu tác động, chi phối bởi rất
nhiều các yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài. Các
yếu tố chủ đạo của an ninh xã hội, các quan hệ xã hội liên quan tôn giáo,
dân tộc, nông thôn, đô thị, vấn đề mâu thuẫn, xung đột liên quan đất đai
đang trong quá trình biến đổi và chứa đựng rất nhiều yếu tố có khả
năng dẫn đến nguy cơ gia tăng bất ổn về an ninh, trật tự.
Trên lĩnh vực tôn giáo, ngoài những đặc điểm chung
của tôn giáo vốn rất nhạy cảm, như liên quan đến tính duy tâm, đến tâm
linh, đến sự chi phối, tác động sâu sắc của giáo lý, giáo luật,
giáo hội và giáo sĩ đối với đời sống tinh thần, tình cảm, sự cố
kết cộng đồng của đại bộ phận tín đồ tôn giáo được xác định là một
trong những vấn đề tiềm ẩn phức tạp về an ninh, trật tự, đặc biệt là Công giáo. Nhìn chung, tôn giáo ở Việt
Nam hoạt động thuần túy tôn giáo, chấp hành pháp luật, đa số quần chúng tín đồ
đều tuân thủ việc “sống tốt đời đẹp đạo”, phục vụ xây dựng quê hương, đất nước,
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một bộ phận
chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, thường xuyên chống đối chính quyền, coi
thường pháp luật, thậm chí móc nối, liên kết số đối tượng phản động, chống đối
để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng đến sự ổn định
và phát triển của địa phương. Một số tôn giáo cũng đang đẩy mạnh phát triển
tín đồ, củng cố đức tin, gây ảnh hưởng trong xã hội, nhất là ở vùng
nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Đồng thời, triệt để lợi dụng chính
sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, những sơ hở thiếu sót của chính quyền trong
công tác quản lý nhà nước về tôn giáo để lấn chiếm, đòi lại, xin lại đất đai,
cơ sở vật chất có nguồn gốc tôn giáo,…gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an
ninh, trật tự.
Muốn xóa bỏ được những vấn đề mà các thế lực thù
địch đã và đang lợi dụng, đang dựa vào để kích động chống phá và gây nên những
bất ổn cho khu vực Tây Nguyên trong suốt thời gian qua, cần làm rõ nguyên nhân
và nguồn gốc hình thành ban đầu của nó. Cái gọi là “Nhà nước Đề-ga tự trị”,
“vua Nước”, “vua Lửa”, “vương quốc người Thượng” mà các thế lực thù địch đưa ra
hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để khẳng định. Tính độc lập, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trong Hiến pháp, pháp
luật và được cộng đồng các quốc gia - dân tộc trên thế giới thừa nhận. Điều 5,
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng
sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”(6). Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lịch sử của
Tây Nguyên không chỉ làm phong phú hơn tiến trình lịch sử hình thành và phát
triển của vùng đất này mà còn góp phần cung cấp các luận cứ khoa học để đập tan
các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Việc làm rõ các vấn đề lịch
sử ở Tây Nguyên còn giúp cho cộng đồng cư dân sở tại hiểu rõ hơn truyền thống lịch
sử của dân tộc mình, biết quý trọng những thành quả cách mạng mà các thế hệ ông
cha đã hy sinh xương máu để gìn giữ và bảo vệ. Một khi nhận thức của cộng đồng
cư dân được củng cố và nâng cao sẽ tạo nên sức mạnh phòng vệ một cách tự nhiên
trước các âm mưu lôi kéo, kích động chia rẽ, ly khai của các thế lực thù địch.
Cần bám sát trình độ phát triển kinh tế, đặc
trưng văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc để áp dụng các chính sách
phù hợp; 2- Nghiên cứu kỹ khả năng tiếp nhận, chuẩn bị của mỗi dân tộc để đưa
ra những định hướng đúng đắn cho đồng bào trong thực thi, vận hành chính sách;
3- Cần phân loại cụ thể các chính sách để thực hiện có trọng tâm, trọng điểm,
có hiệu quả, nhất là đối với những chính sách quan trọng, cấp bách; 4- Xây dựng
lộ trình, kế hoạch và các yêu cầu cụ thể đối với từng chính sách để tiện theo
dõi, đánh giá hoặc kịp thời điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với đặc
thù của từng dân tộc, từng địa phương; 5- Phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ
của hệ thống chính trị ở cơ sở trong vai trò là người hướng dẫn đồng bào thực
thi, áp dụng các chính sách vào trong đời sống; 6- Cần bảo đảm tính bình đẳng
về quyền thụ hưởng, sự phân bổ các cơ chế, chính sách giữa các dân tộc, giữa
các địa phương; tránh việc tuyệt đối hóa tính đặc thù của một khu vực, một đối
tượng nhất định; đồng thời, tránh áp dụng chính sách chung chung, thiếu tính cụ
thể.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét