Để quyền tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong
cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều đạo
luật quan trọng như Luật Báo chí, Luật An ninh mạng; Luật Xuất bản… và Chính phủ
cũng đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý
cho báo chí Việt Nam phát triển, quyền tự do báo chí của công dân được bảo đảm.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này
do pháp luật quy định”
Điều 13 Luật Báo chí hiện hành quy định rõ trách nhiệm của
Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của
công dân: “1. Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự
do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai
trò của mình. 2. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được
Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn
luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức và công dân. 3. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và
phát sóng.”
Cùng với tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền
tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng
vai trò của mình, Luật Báo chí cũng quy định rõ trách nhiệm, chính sách của Nhà
nước về phát triển báo chí, trong đó khẳng định Nhà nước “có chiến lược quy hoạch
phát triển và quản lý hệ thống báo chí”, đồng thời “xây dựng, chỉ đạo và tổ chức
thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí”.
Điều 13 của Luật Báo chí quy định trách nhiệm của Nhà nước đối
với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Theo
đó, Điều 10 quy định công dân có quyền: “1. Sáng tạo tác phẩm báo chí. 2. Cung
cấp thông tin cho báo chí. 3. Phản hồi thông tin trên báo chí. 4. Tiếp cận
thông tin báo chí. 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí.
6. In, phát hành báo in.”
Điều 11 của Luật này cũng quy định công dân có quyền: “1.
Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới. 2. Tham gia ý kiến xây dựng
và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3. Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các
tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ
chức, cá nhân khác”. Cùng với tôn trọng và bảo đảm quyền tự do báo chí, cũng
như mọi quốc gia trên thế giới Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường
hợp lợi dụng quyền tự do báo chí để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước
và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân.
Như vậy, có thể khẳng định ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí đã được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và công
khai, minh bạch. Trên thế giới không phải nước nào cũng làm được như Việt Nam.
Trong mấy năm gần đây, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện cả nước có 868 cơ quan báo chí, 72 đài
phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử. Báo chí Việt Nam một mặt thông
tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội, một mặt báo chí là diễn đàn
của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Báo chí Việt Nam là nơi để công dân Việt
Nam và cả bạn bè quốc tế bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Đảng Cộng sản Việt Nam
và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo chí Việt Nam còn là kênh phản
biện quan trọng về những chủ trương chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại của đất nước. Thực tế, thời gian qua nhiều vấn đề quan trọng của
đất nước, qua sự phản biện của báo chí đã giúp cho các cơ quan của Nhà nước
thay đổi, điều chỉnh chính sách, thận trọng trước khi đưa ra những chủ trương,
giải pháp, quyết sách lớn… Điểm qua vài nét như vậy đã đủ thấy bức tranh sinh động
về tự do báo chí ở Việt Nam.
Ấy vậy mà mới đây Tổ chức phóng viên không biên giới công bố
chỉ số “Tự do Báo chí thế giới năm 2022”, trong đó xếp Việt Nam ở vị trí
175/180 quốc gia trên thế giới. Kèm theo đó tổ chức này còn cho rằng, Việt Nam
là “một trong 10 quốc gia có tự do báo chí kém nhất thế giới”. Đây là một sự
bóp méo, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn. Chúng ta chẳng lạ gì động cơ, mục đích của
Tổ chức phóng viên không biên giới. Chiêu trò của tổ chức này từ nhiều năm nay
vẫn thế. Nhưng sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã bác bỏ mọi luận điệu bóp
méo, xuyên tạc, vu cáo của tổ chức này. Họ cho rằng, Việt Nam là “một trong 10
quốc gia có tự do báo chí kém nhất thế giới” nhưng có lẽ họ chưa hề đến Việt
Nam và chưa hiểu những đóng góp to lớn của báo chí Việt Nam đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; họ chưa biết rằng, Việt Nam đã trở thành quốc gia
hàng đầu trong khu vực. Tất cả những thông tin của họ chỉ là “vơ bèo vặt tép”,
cóp nhặt vô căn cứ. Những thành tựu về nhân quyền nói chung và tự do báo chí
nói riêng của Việt Nam đã được thế giới ghi nhận và đáng giá cao. Chính những từ
thành tựu ấy và những đóng góp vào thúc đẩy, phát triển nhân quyền nói chung, tự
do báo chí nói riêng mà Việt Nam đã được bầu trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền
Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là minh chứng rõ ràng bác bỏ mọi luận điệu
bóp méo, xuyên tạc theo kiểu “nghe hơi nồi chõ” của Tổ chức phóng viên không
biên giới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét