LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN KHÔNG
CHỈ
TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC, NHÂN DÂN MÀ
CÒN
TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Có
thể khẳng định rằng, việc bổ sung thêm những điểm mới trong Điều 65 Hiến pháp
năm 2013 quy định về lực lượng vũ trang trung thành với Đảng và Nhà nước, bảo
vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn cần thiết
và đúng đắn dựa trên những cơ sở vững chắc cả về lý luận và thực tiễn. Việc quy
định mới này góp phần làm cho bản Hiến pháp năm 2013 có sức sống mới, phản
ánh đúng đắn tình hình thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, các thế lực thù địch và các
phần tử cơ hội chính trị vẫn tiếp tục tuyên truyền các quan điểm mơ hồ
về “một thể chế đa nguyên, đa đảng, một chính thể với tam quyền phân lập
gắn với lực lượng vũ trang trung lập, đứng ngoài chính trị”; “lực lượng vũ
trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với
bất kỳ tổ chức nào”; “lực lượng vũ trang là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc…
không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào”,… nhằm phủ nhận vấn đề này.
Trên
cơ sở xem xét một cách khách quan, khoa học thì sự hoài nghi, phủ nhận quy định
lực lượng vũ trang nhân dân trung thành với Đảng, có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà
nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Điều 65 trong Hiến pháp năm 2013 là không có
căn cứ, cơ sở khoa học. Có thể khẳng định rằng, việc bổ sung thêm những điểm
mới này ở Điều 65 trong Hiến pháp năm 2013 là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn
dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc:
Trước
hết, việc quy định lực lượng vũ trang trung thành với Đảng và Nhà nước xuất
phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất giai cấp của lực lượng vũ
trang. Trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu nguồn gốc, bản chất
chiến tranh và lực lượng vũ trang, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định lực
lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử ra đời trong giai đoạn phát triển nhất
định của loài người khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối
kháng giai cấp trong xã hội; bản chất chính trị - xã hội của lực lượng vũ trang
được quyết định bởi lực lượng vũ trang đó do giai cấp nào tổ chức ra, nằm trong
tay ai và phục vụ trước hết cho lợi ích của giai cấp nào trong xã hội. Lực
lượng vũ trang do giai cấp áp bức, bóc lột tổ chức bao giờ cũng hướng đến mục
tiêu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, trên cơ sở chà đạp lên quyền lợi
của nhân dân lao động. Ngược lại, lực lượng vũ do giai cấp công nhân và nhân
dân lao động tổ chức ra luôn vì lợi ích của nhân dân. Như vậy là, trong xã hội
có giai cấp, lực lượng vũ trang chưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài đời
sống chính trị của xã hội. Về vấn đè này, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội không
thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu
hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga
hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị
phản động”.
Thứ
hai, thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy rõ, không có lực lượng vũ trang trung
lập, đứng ngoài chính trị. Những lực lượng
vũ trang đầu tiên xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, La Mã cổ
đại… đã luôn đóng vai trò là công cụ bạo lực hữu hiệu giúp giai cấp chủ nô hiện
thực hóa mọi mục đích chính trị, như: bảo vệ nhà nước chiếm hữu nô lệ, trấn áp
phong trào đấu tranh của nô lệ, tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng phạm vi
lãnh thổ… Trải qua thời kỳ trung đại, cận đại và hiện đại ngày nay, vấn đề này
vẫn là một quy luật không hề thay đổi: không có quốc gia nào không do một giai
cấp tổ chức ra, không do một đảng phái chính trị lãnh đạo; không có lực lượng
vũ trang, quân đội nào không gắn với chính đảng cầm quyền. Chính đảng lãnh đạo
lực lượng vũ trang, quân đội là biểu hiện tập trung cao nhất, đại diện cho lợi
ích giai cấp cầm quyền - cũng là lực lượng chính trị đã tổ chức ra lực lượng vũ
trang, quân đội. Dù có thừa nhận hay không thì lực lượng vũ trang, quân đội vẫn
chịu sự chi phối bởi quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước đã
tổ chức ra nó.
Thứ
ba, thực tiễn ra đời, trưởng thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân
dân nước ta đã khẳng định lực lượng vũ
trang nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân, luôn trung thành với Tổ quốc,
Nhân dân, với Đảng và Nhà nước. Thực tiễn ra
đời, trưởng thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân nước ta cho
thấy, lực lượng vũ trangnhân dân bao
gồm cả Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và dân quân tự vệ ra đời từ các
phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn là công cụ bạo lực
sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, lực lượng
vũ trang luôn chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Những
ý kiến, quan điểm đi ngược lại Điều 65 trong Hiến pháp năm 2013, cổ súy cho
luận điệu “lực lượng vũ trang trung lập, đứng ngoài chính trị” chỉ là sự biến
tướng của âm mưu, thủ đoạn thâm độc nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ
trang, xóa nhòa bản chất giai cấp của lực lượng vũ trang, tiến tới làm biến
chất lực lượng vũ trang nhân dân nước ta, trên cơ sở đó tạo tiền đề cho âm mưu
xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân
dân, Nhà nước và xã hội nhằm thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Từ bài
học sâu sắc về vấn đề “lực lượng vũ trang trung lập, đứng ngoài chính trị” ở
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thực tiễn cho thấy
rằng, đồng tình với quan điểm “lực lượng vũ trang trung lập, đứng ngoài chính
trị” cũng có nghĩa là phủ nhận tính giai cấp của lực lượng vũ trang, bất luận
như thế nào cũng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Bài học về sự tan rã và sụp đổ
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến nay vẫn còn
nguyên giá trị.
Nguyễn Việt Sơn CH32-Hệ SĐH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét