Chủ trương hòa hợp dân tộc đã được Đảng ta áp dụng ngay sau ngày đất nước thống nhất, nhưng để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thì phải đến khi chúng ta có Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 16 năm qua, kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 36, vấn đề hòa hợp dân tộc ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả. Chúng ta đã thu hút được nguồn lực to lớn từ kiều bào khắp nơi trên thế giới, chung tay, góp sức xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, những vướng mắc
hiện nay không phải ở chủ trương, mà ở cách vận dụng, thực hiện chủ trương từ
cơ sở, địa phương và từ phía đối tượng của hòa hợp dân tộc. Người tài trong cộng
đồng Việt kiều không hiếm, nhưng để thu hút họ toàn tâm toàn ý đóng góp xây dựng
quê hương, đất nước thì phải có môi trường, bệ đỡ vững chắc từ cơ sở. Điều này
đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng từ cơ sở phải năng động, nhạy
bén, cởi mở. Hơn nữa, nói đi cũng cần phải nói lại, sự thông thoáng không đồng
nghĩa với dễ dãi. Mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp luật, không để tình trạng
lợi dụng tính nhân văn của chủ trương, sự thông thoáng của cơ chế để thực hiện
các âm mưu đen tối. Người Việt Nam ở nước ngoài, bất kể là ai, ở đâu, đều phải
có nhận thức thấu đáo, bản thân mình vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hòa hợp
dân tộc. Thế nên, trước hết và trên hết, muốn hòa hợp thực chất, hiệu quả, phải
xuất phát từ cái tâm trong sáng, mang tinh thần xây dựng. Mọi hành động, việc
làm hướng về quê hương đất nước phải thực tâm. Đã là người Việt Nam thì phải
luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết./.

ok
Trả lờiXóa