Nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã phát huy tốt sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tập hợp, vận động đông đảo nhân dân vào khối đại đoàn kết, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; huy động các nguồn lực, tiềm năng, sự sáng tạo trong nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, còn một số vấn đề bức xúc về đời sống, việc làm, môi trường, thiên tai, dịch bệnh, nhất là một số vụ việc phức tạp chậm được giải quyết, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chậm được đẩy lùi,... đã tác động không tốt đến tư tưởng, lòng tin của một bộ phận nhân dân, làm ảnh hưởng đến việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, tuy đã có nhiều đổi mới, tích cực là cơ bản, song tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Ở một số nơi còn chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhất là những vấn đề bức xúc của nhân dân; việc tuyên truyền, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia một số phong trào, cuộc vận động chưa thực sự đi vào chiều sâu; công tác giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền có kết quả còn hạn chế; một số vụ việc phức tạp chậm được giải quyết, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục xác định, “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”, trong đó bổ sung nhiều điểm mới:
Một là, ở chủ đề Đại hội XII của Đảng, thành tố thứ hai của chủ đề là “phát huy sức mạnh toàn dân tộc”; đến chủ đề Đại hội XIII của Đảng, thành tố thứ hai được bổ sung và yêu cầu cao hơn là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại”. Rõ ràng, đây là một nhận thức mới, hết sức quan trọng, đúng đắn, mang tính dân tộc và thời đại, là yêu cầu rất cao, để tiếp tục đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng trong tình hình mới.
Hai là, về tầm quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định đây là một quan điểm, chủ trương lớn và bổ sung trong quan điểm về động lực phát triển; qua đó, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển.
Ba là, đối với các tầng lớp nhân dân, Đảng đã khái quát, khẳng định quan điểm chung nhất, mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích xã hội.
Bốn là, về lãnh đạo đối với từng giai cấp, tầng lớp, căn cứ yêu cầu của tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung những quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp trong điều kiện mới, như: 1- Giai cấp công nhân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế... Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay; 2- Giai cấp nông dân. Huy động và phát huy mọi nguồn lực từ nông dân, nông thôn cùng với các nguồn lực khác để thực hiện thành công mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh; 3- Đội ngũ trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng; 4- Đội ngũ doanh nhân. Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi; 5- Thế hệ trẻ. Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, xã hội; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để thế hệ trẻ phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ; 6- Tầng lớp phụ nữ. Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; 7- Đồng bào dân tộc thiểu số. Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số,... Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững; 8- Đồng bào theo tôn giáo. Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”,... Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước; 9- Người Việt Nam ở nước ngoài. Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bào hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc,...
Bộ đội Đồn Biên phòng Pha Long, huyện Mường Khương (tỉnh Lào Cai) hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số rửa tay phòng dịch COVID-19 _Ảnh: TTXVN
Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu trọng tâm thứ nhất về phát triển đất nước là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đưa ra giải pháp: “Đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo phương châm hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, làm cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố, tăng cường lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(7).
Trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội... Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8).
LHQ-ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét