Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở nước ta đã tiến một bước dài chưa từng có. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người chiến sĩ tiên phong vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ Việt Nam. Người đã đưa ra những quan điểm sâu sắc, toàn diện và triệt để về bình đẳng giới, về giải phóng và phát triển phụ nữ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong
lịch sử và thực tiễn cách mạng, Người khẳng định: phụ nữ là một lực lượng cách
mạng quan trọng. Người cho rằng sự nghiệp cách mạng không thể thành công nếu
không có phụ nữ tham gia: “xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là
không có đàn bà, con gái tham gia”; “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham
gia mới thành công”.
Trong Thư gửi phụ nữ nhân kỷ niệm chiến thắng Hai Bà Trưng và ngày Quốc
tế phụ nữ 8/3/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc nước
Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực
rỡ”. Tại lễ kỷ niệm 36 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
(20/10/1966), Người phát biểu: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ
khởi nghĩa đánh giặc cứu dân cho đến nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ
nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân
tộc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tặng cho những người phụ nữ Việt Nam tám chữ
vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” để khẳng định và ca ngợi vai
trò to lớn của người phụ nữ Việt Nam.
Không chỉ đánh giá cao vị trí, vai trò của người phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn rất coi trọng sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong toàn bộ sự nghiệp cách
mạng. Theo Người, giải phóng phụ nữ chính là thước đo của trình độ phát triển
xã hội. Bởi, “phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì
không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng
chủ nghĩa xã hội một nửa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sự nghiệp giải phóng
phụ nữ gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người. “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc
được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong
cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm về mục tiêu giải phóng phụ nữ là
giải phóng một cách toàn diện, từ trong gia đình ra xã hội, cả về kinh tế và
chính trị. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 do Người chỉ đạo
soạn thảo đã khẳng định rõ: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền
bình đẳng với nam giới về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao lực lượng chính trị của phụ nữ và
rất quan tâm đấu tranh giải phóng phụ nữ về chính trị, thể hiện cụ thể ở quyền
tham gia các hoạt động chính trị, tham gia các tổ chức chính trị, trở thành cán
bộ lãnh đạo, quản lý một cách bình đẳng với nam giới. Trong suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm tuyên truyền, giác ngộ phụ nữ, đưa phụ
nữ tham gia tích cực vào công việc cách mạng, chú ý nêu gương phụ nữ và những
phong trào của phụ nữ.
Thực hiện căn dặn của Người, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ
trương, chính sách với những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, tạo điều kiện để phụ
nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi mặt của đời sống xã hội. Nhiều văn bản quy
phạm pháp luật bảo đảm quyền của phụ nữ được ra đời, trong đó Luật Bình đẳng
giới được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2006 đã tạo hành lang pháp lý vững chắc
cho việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Điều 4 của Luật Bình
đẳng giới ghi rõ: “Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới,
tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát
triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết
lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội và gia đình”. Đặc biệt, tại điều 26 Hiến pháp năm 2013 xác định:
“Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện,
phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Việc cụ thể hóa quyền bình đẳng nam nữ
bằng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã tạo điều kiện
thuận lợi cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất, bảo hộ sức khỏe, giảm nhẹ gánh
nặng gia đình. Đánh giá tầm quan trọng của bình đẳng giới trong phát triển kinh
tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam khẳng định bình đẳng giới là yếu tố tiền đề để
xây dựng một nguồn nhân lực vững mạnh, cũng như đẩy mạnh chất lượng cuộc sống
cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội. Trong Nghị quyết về Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chính phủ xác định mục tiêu cụ
thể trong các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp đến năm
2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong lĩnh vực
kinh tế, lao động, tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên 50% vào năm
2025 và khoảng 60% vào năm 2030. Giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu
vực nông nghiệp xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030. Tỷ lệ nữ
giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào
năm 2030. Trong đời sống gia đình, phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở
giới: Giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình
không được trả công của phụ nữ xuống còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào
năm 2030 so với nam giới… Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Hồ
Chí Minh về vai trò của phụ nữ và giải phóng phụ nữ. Đồng thời, cũng khẳng định
sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để
giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của lịch sử Việt
Nam đặt vị thế, vai trò của phụ nữ ngang với nam giới và Người cũng là một
trong những lãnh tụ tiêu biểu của thế giới đề cao sự nghiệp giải phóng phụ nữ,
thực hiện bình đẳng nam nữ. Nữ sử học người Mỹ J.Stenson đã nhận định, so với
các lãnh tụ nổi tiếng thế giới, chỉ có Hồ Chí Minh là đã luôn luôn nói về quyền
bình đẳng của phụ nữ, thấy được phụ nữ đã phải chịu những gánh nặng như nam
giới và còn hơn thế. Cùng với sự phát triển của đất nước, các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ ngày
càng được quan tâm và coi trọng. Điều đó đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực
hiện quyền bình đẳng giới, tạo ra một bước chuyển biến mới trong việc bảo đảm
quyền bình đẳng của phụ nữ ở Việt Nam. Đó chính là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét