Việt Nam đã công bố
Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, minh bạch hóa quan
điểm, chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam và thành tựu bảo đảm quyền
tự do tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua. Cuốn sách, một lần nữa khẳng
định, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng; "không một cá
nhân, tổ chức tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm".
Tín ngưỡng tự do,
lương giáo đoàn kết
Từ khi ra đời, Nhà
nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của người dân, tôn trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người cũng
như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Với tinh thần “tín
ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”, Đảng ta rất coi trọng chính sách đoàn kết
và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì
lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.
Sau hơn 35 năm tiến
hành công cuộc Đổi mới, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận
về tôn giáo và quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết 24 (1990)
của Bộ Chính trị, khoá VI về công tác tôn giáo và Nghị quyết 25 (2003) của Ban
Chấp hành Trung ương khoá IX về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới có
tính đột phá, thừa nhận “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân; đạo đức tôn giáo có
nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây là những vấn
đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển lên
mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Với quan điểm đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo,
tín ngưỡng đã được minh định theo hướng “vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu
tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo; công
tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị”.
Cũng xuất phát từ quan
điểm đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người sinh sống trên lãnh thổ
Việt Nam đều được luật hoá trong các bản Hiến pháp và các bộ luật liên quan với
đầy đủ bình diện “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm”, “Mọi người có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo
đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Hiến pháp 2013, Điều 24).
Hoà hợp, bình đẳng
giữa các tôn giáo
Quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của người dân không chỉ tồn tại trên các văn bản pháp luật, mà
đã được bảo đảm trên thực tế bằng những căn cứ rất thuyết phục. Nhà nước bảo
đảm sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo và không phân biệt đối xử vì lý
do tín ngưỡng, tôn giáo; tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo được tham gia
vào đời sống chính trị xã hội của đất nước.
Trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc, ở Việt Nam không có tôn giáo nào giữ vị trí độc tôn mà các tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử. Các tôn giáo
chung sống hài hòa, đoàn kết, gắn bó đồng hành với dân tộc, không có xung đột
sắc tộc, tôn giáo. Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động
một cách bình thường; các thủ tục công nhận các tổ chức tôn giáo, cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, thành lập cơ sở đào tạo, mở lớp bồi dưỡng tôn
giáo, xuất bản kinh sách, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo...
được thực hiện thuận lợi theo quy định của Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn
giáo và pháp luật.
Nhà nước Việt Nam cũng
khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo phát huy nguồn lực tham gia
các hoạt động an sinh xã hội như giáo dục, y tế và các hoạt động từ thiện nhân
đạo, bảo trợ xã hội. Vấn đề đất đai liên quan đến tôn giáo luôn được Nhà nước
quan tâm giải quyết.
Đóng góp vào sự phát
triển của đất nước
Là quốc gia đa sắc tộc
với 54 dân tộc anh em chung sống hòa bình trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam, nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc ít người
đã được chính quyền các cấp quan tâm, bảo đảm và hướng dẫn giải quyết hợp lý
các vấn đề nảy sinh. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với người chấp hành
án phạt tù cũng từng bước được quan tâm thể hiện sự nỗ lực của Nhà nước Việt
Nam trong việc thực thi các Công ước quốc tế về quyền con người.
Trong tiến trình thực
hiện chủ trương, chính sách đối ngoại “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và
là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, nước ta hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã và đang phấn đấu trở thành “công xưởng” và
là “Trung tâm sáng tạo” của thế giới thu hút nhiều lao động nước ngoài đến đầu
tư, làm việc, học tập trong đó nhiều người là tín đồ các tôn giáo. Nhà nước
Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người
nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; quan tâm, tạo điều kiện cho họ có nơi
sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hòa trong dòng chảy
lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, với sức mạnh được hun đúc từ mạch
nguồn văn hóa: lòng yêu nước nồng nàn, ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, tự
cường, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thương người như thể thương thân”,
các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp nhất định trong những mức độ khác nhau
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Sự đóng góp đó, trước hết, thể hiện ở đường hướng hành đạo của mỗi tôn
giáo: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “Sống Phúc âm giữa
lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (Công giáo); “Sống Phúc âm,
phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc” (Tin Lành)... Đường hướng hành
đạo của các tôn giáo tuy có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung đều nói lên
sự gắn bó với dân tộc, với Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Có thể nói, các tôn giáo
ở Việt Nam vừa là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa, đồng thời là nguồn lực
quan trọng, góp phần phát triển đất nước. Nhiều điểm tương đồng giữa tôn giáo
với xã hội, giữa giáo lý, giáo luật với pháp luật Nhà nước về mục tiêu giải
phóng con người, chống áp bức bất công của cách mạng Việt Nam và của các tôn
giáo, đã và đang được phát huy cao độ.
Không chỉ đóng góp vào
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, tôn giáo còn là một bộ phận cấu thành của văn hoá
Việt Nam. Những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo đã góp phần tạo
nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Bằng những giáo lý
nhân văn, bác ái của mình, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát huy, lan toả các giá
trị văn hóa, đạo đức nhân văn, bác ái ấy vào đời sống xã hội, góp phần tạo nên
những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, ứng xử nhân văn, nhân ái của dân tộc ta, đóng
góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, cụ thể hóa thành những hành động thiết
thực, cứu người, giúp đời, chung tay cùng đồng bào tôn giáo và đồng bào không
có tôn giáo xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, trong dòng
chảy lịch sử đất nước, các tôn giáo ở Việt Nam không phải chỉ có những “điểm
sáng”, mà đôi khi có cả “ánh sáng và bóng tối xen lẫn”. Đó là điều đáng tiếc.
Nhưng, chúng ta tin tưởng rằng, sự tương đồng trong mục tiêu phấn đấu vì con
người, vì sự phồn vinh của đất nước, vì "mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”, tín đồ các tôn giáo, trước hết là con dân Việt, công
dân Việt, sẽ sống “tốt đời, đẹp đạo”, mãi tiếp bước trên con đường “đồng hành
với dân tộc”, vượt lên mọi thách thức và cả những âm mưu đen tối của các thế
lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam.
Từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tôn trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người cũng như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trả lờiXóa